Viết nghị luận xã hội

Quy trình viết đoạn 200 chữ, bài 600 chữ nghị luận xã hội; barem tự chấm, bài mẫu ba mức tốt – khá – trung bình có nhận xét và lỗi mất điểm.

Kiến thức trọng tâmLớp 10Lớp 11Lớp 12
Mục lục (12 phần)

Nghị luận xã hội bàn về một tư tưởng, đạo lí, một lối sống hay một hiện tượng đời sống, thường gắn với người trẻ. Trong đề thi, nó có thể là đoạn văn khoảng 200 chữ (2,0 điểm) hoặc bài văn khoảng 600 chữ (4,0 điểm), và vấn đề thường được gợi ra từ chính ngữ liệu ở phần Đọc hiểu. Điểm cao không đến từ những câu khẩu hiệu, mà từ lập luận rõ ràng, dẫn chứng thật và suy nghĩ riêng.

Bài ôn đi theo đúng trình tự em làm trong phòng thi: đọc barem để biết bài viết được chấm theo những tiêu chí nào, làm bài theo bốn bước, rồi luyện tự chấm với ba đề có bài mẫu ở ba mức tốt, khá, trung bình.

Barem tự chấm

Barem dưới đây do ToanKhonTech biên soạn để em tự chấm. Barem bám theo cách phân nhóm điểm của hướng dẫn chấm đề thi tốt nghiệp những năm gần đây (nội dung kiến thức, kĩ năng lập luận, hình thức và ngôn ngữ); các dòng chi tiết là cách chia của bài ôn. Khi thi thật, giám khảo chấm theo hướng dẫn chấm của Bộ cho từng đề. Các đề trong ứng dụng cũng chấm theo khung ba nhóm này. Khi tự chấm, đi từng dòng của bảng; dòng nào không tìm thấy “bằng chứng” trên trang giấy (câu chủ đề, dẫn chứng, câu phản đề…) thì không cho điểm.

Đoạn văn khoảng 200 chữ (2,0 điểm)

Tiêu chí (điểm) Đạt trọn điểm khi Mất điểm khi
Xác định vấn đề (0,25) Câu mở đoạn nêu đúng, đủ vấn đề và quan điểm của em Nêu thiếu một vế của ý kiến; chỉ khen đề “hay, ý nghĩa” mà không nói đồng tình vì sao
Giải thích (0,25) 1–2 câu làm rõ từ khóa và ý nghĩa của cả nhận định Giải thích sai; giải thích dài quá ba câu
Bàn luận (0,5) Hai lí lẽ, ít nhất một dẫn chứng cụ thể (ai, làm gì, kết quả) có câu rút ý Lí lẽ đúng nhưng không có dẫn chứng cụ thể: 0,25; lạc sang vấn đề khác: 0
Phản đề và bài học (0,25) Có câu phản đề đúng trọng tâm và bài học là việc làm cụ thể Thiếu một trong hai; bài học hô khẩu hiệu
Kĩ năng lập luận (0,5) Câu sau phát triển câu trước, dẫn chứng phục vụ lí lẽ, không khẳng định tuyệt đối Ý lặp, nhảy cóc: 0,25; ý rời rạc, mâu thuẫn: 0
Hình thức và ngôn ngữ (0,25) Đúng một đoạn, 100–300 chữ, hầu như không lỗi chính tả, ngữ pháp Xuống dòng; dưới 100 hoặc trên 300 chữ; nhiều lỗi câu

Bài văn khoảng 600 chữ (4,0 điểm)

Tiêu chí (điểm) Đạt trọn điểm khi Mất điểm khi
Xác định vấn đề (0,25) Mở bài nêu đúng vấn đề và quan điểm Mở bài dẫn dắt dài mà không nói rõ bàn về điều gì
Giải thích (0,25) Làm rõ từ khóa, rút ra ý nghĩa của cả nhận định Giải thích sai hoặc chiếm gần nửa bài
Bàn luận (1,0) Hai, ba luận điểm; mỗi luận điểm có lí lẽ, dẫn chứng, câu phân tích Mỗi luận điểm thiếu dẫn chứng hoặc chỉ kể mà không rút ý: trừ 0,25
Mở rộng, phản đề (0,5) Phê phán biểu hiện trái chiều (0,25) và chỉ ra giới hạn, cách hiểu đúng (0,25) Thiếu phản đề; phản đề lấn át quan điểm chính
Bài học (0,5) Nhận thức (0,25) và việc làm cụ thể gắn với bản thân (0,25) Câu khẩu hiệu “chúng ta cần cố gắng hơn nữa”
Kĩ năng lập luận (0,5) Mỗi đoạn một luận điểm, có câu chuyển đoạn, không mâu thuẫn Ý lặp giữa các đoạn, đoạn lạc sang vấn đề khác
Dẫn chứng (0,25) Xác thực, tiêu biểu, gần đời sống người trẻ Dẫn chứng chung chung (“nhiều người…”), bịa số liệu, câu nói không rõ nguồn
Bố cục, dung lượng (0,25) Đủ mở bài, thân bài, kết bài; 400–800 chữ Thiếu mở bài hoặc kết bài; dưới 400 hoặc trên 800 chữ
Chính tả, ngữ pháp, dùng từ (0,25) Hầu như không lỗi, từ ngữ đúng phong cách nghị luận Lỗi lặp lại nhiều lần; dùng từ lóng, từ sai nghĩa
Sáng tạo (0,25) Cách dẫn dắt mới, liên hệ sâu, có hình ảnh và suy nghĩ riêng Câu sáo, ý ai cũng viết được

Với đề hiện tượng đời sống, 2,5 điểm nội dung chia lại: xác định vấn đề 0,25 · giải thích và thực trạng 0,5 · nguyên nhân 0,5 · tác động 0,5 · nhìn nhận hai chiều 0,25 · giải pháp, bài học 0,5. Với đề câu hỏi lựa chọn: xác định vấn đề 0,25 · giải thích 0,25 · đánh giá ý kiến thứ nhất 0,5 · đánh giá ý kiến thứ hai 0,5 · quan điểm riêng có lí giải 0,5 · bài học 0,5.

Mức tham khảo Đoạn văn (2,0 điểm) Bài văn (4,0 điểm)
Tốt 1,75–2,0 3,5–4,0
Khá 1,25–1,5 2,75–3,25
Trung bình 0,75–1,0 2,0–2,5

Quy trình làm bài bốn bước

Với đề thi 120 phút, đoạn văn nên dùng khoảng 25 phút, bài văn khoảng 50 phút; thời gian còn lại dành cho phần Đọc hiểu. Bốn bước dưới đây được minh họa bằng Đề 1 ở phần luyện tự chấm.

Bước Đoạn văn Bài văn Kết quả của bước
1. Phân tích đề 3 phút 5 phút Một câu nêu vấn đề và quan điểm
2. Lập dàn ý 4 phút 8 phút Dàn ý gạch đầu dòng bằng từ khóa
3. Viết 15 phút 32 phút Đoạn hoặc bài hoàn chỉnh
4. Tự soát 3 phút 5 phút Bài đã sửa lỗi, đủ dung lượng

Bước 1: Phân tích đề

  • Gạch chân từ khóa, xác định dạng đề: tư tưởng, đạo lí; hiện tượng đời sống; câu hỏi lựa chọn.
  • Tách ý kiến thành từng vế và tìm vế trọng tâm. Vế trọng tâm thường đứng sau “mà”, “không phải… mà là…”, “không cần…”.
  • Viết ra giấy nháp một câu trả lời đề: “Em đồng tình (hoặc đồng tình một phần) vì…”. Câu ấy sẽ thành câu chủ đề hoặc luận đề.
  • Khoanh vùng dẫn chứng: học đường, gia đình, mạng xã hội, hoạt động cộng đồng.

Bước 2: Lập dàn ý

  • Dàn ý viết bằng từ khóa, không viết thành câu. Cạnh mỗi lí lẽ ghi tên một dẫn chứng.
  • Kiểm dàn ý bằng ba câu hỏi: Đủ giải thích – bàn luận – phản đề – bài học chưa? Dẫn chứng có thật, cụ thể chưa? Có ý nào lạc khỏi vế trọng tâm không?

Bước 3: Viết

  • Viết câu chủ đề (hoặc luận đề ở mở bài) trước; mọi câu sau phải phục vụ câu ấy.
  • Mỗi luận điểm đi theo nhịp Lí lẽ → Dẫn chứng → Rút ý: câu rút ý nối dẫn chứng trở lại vấn đề (“Món quà ấy cho thấy…”).
  • Đoạn văn không xuống dòng. Bài văn: mỗi luận điểm một đoạn, đầu đoạn có câu chuyển (“Không chỉ vậy…”, “Tuy vậy…”, “Từ đó…”).
  • Đếm thử số chữ trên một dòng viết tay của chính em (thường 10–15 chữ) để biết 200 chữ và 600 chữ chiếm khoảng bao nhiêu dòng giấy thi.

Bước 4: Tự soát

Câu hỏi tự soát Chưa đạt thì sửa thế nào
Câu đầu đã nêu đúng vấn đề và quan điểm chưa? Viết lại cho đủ các vế của ý kiến, thêm “vì…”
Mỗi lí lẽ đã có dẫn chứng và câu rút ý chưa? Thêm một câu “Điều đó cho thấy…” nối dẫn chứng về luận điểm
Đã có phản đề chưa? Thêm một câu “Tuy vậy…” chỉ ra giới hạn hoặc biểu hiện trái chiều
Bài học có phải việc làm cụ thể không? Thay câu khẩu hiệu bằng một việc em làm được ngay
Đoạn có xuống dòng không? Dung lượng có trong khoảng cho phép? Nối lại thành một đoạn; cắt ý lặp hoặc bổ sung dẫn chứng
Có câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, dùng từ sai, sai chính tả? Sửa trực tiếp, gạch một nét gọn gàng

Các dạng đề thường gặp

Dạng Ví dụ đề (tự biên soạn) Trọng tâm
Tư tưởng, đạo lí Ý kiến: “Kiên nhẫn là một năng lực, không phải một sự chờ đợi.” Giải thích – bàn luận – phản đề – bài học
Hiện tượng đời sống Thói quen lướt video ngắn hàng giờ mỗi ngày của nhiều bạn trẻ Thực trạng – nguyên nhân – tác động – giải pháp
Vấn đề gợi từ ngữ liệu Từ bài thơ về người quét đường: trân trọng những người lao động thầm lặng Nêu vấn đề từ văn bản, rồi bàn luận như dạng tư tưởng
Câu hỏi lựa chọn, giải pháp Làm thế nào để người trẻ giữ được sự tập trung trong thời đại số? Trả lời thẳng câu hỏi, đề xuất giải pháp khả thi, có lí giải

Dàn ý khung bài văn khoảng 600 chữ

Dạng tư tưởng, đạo lí

  1. Mở bài (khoảng 60 chữ): dẫn dắt, nêu ý kiến cần bàn và quan điểm của em.
  2. Thân bài (khoảng 480 chữ):
    • Giải thích: nghĩa của từ ngữ then chốt và của cả ý kiến (ngắn gọn, 3–4 câu).
    • Bàn luận: vì sao ý kiến đúng, ý nghĩa của nó; mỗi lí lẽ đi kèm một dẫn chứng.
    • Mở rộng, phản đề: phê phán biểu hiện trái chiều; chỉ ra giới hạn của ý kiến (khi nào không còn đúng).
    • Bài học: nhận thức và hành động cụ thể của bản thân.
  3. Kết bài (khoảng 60 chữ): khẳng định lại vấn đề, để lại một câu đọng.

Dạng hiện tượng đời sống

  1. Mở bài: nêu hiện tượng và thái độ chung của em.
  2. Thân bài: giải thích, mô tả thực trạng (biểu hiện, mức độ) → nguyên nhân (chủ quan, khách quan) → tác động (tích cực, tiêu cực) → giải pháp (cá nhân, gia đình, nhà trường, xã hội) → bài học.
  3. Kết bài: khẳng định, kêu gọi hành động.

Viết đoạn văn khoảng 200 chữ

Đoạn văn là “bài văn thu nhỏ”, viết liền một mạch:

  1. Câu chủ đề: nêu vấn đề và quan điểm.
  2. Giải thích (1–2 câu).
  3. Bàn luận (3–4 câu): hai lí lẽ, ít nhất một dẫn chứng.
  4. Phản đề (1 câu).
  5. Bài học (1–2 câu) và câu kết.

Cách mở bài, kết bài

  • Mở bài: Ta sống trong thời của những thứ “tức thì”: tin nhắn được trả lời sau vài giây, món hàng đặt buổi sáng có thể đến tay buổi chiều, một đoạn video chỉ dài vài chục giây. Giữa nhịp sống ấy, có ý kiến cho rằng: “Kiên nhẫn là một năng lực, không phải một sự chờ đợi.” Em cho rằng đó là nhận định đúng và rất cần cho người trẻ hôm nay.
  • Kết bài: Hạt giống không nảy mầm nhanh hơn vì người gieo sốt ruột. Kiên nhẫn, suy cho cùng, là tin vào việc mình đang làm đủ lâu để nó kịp đơm hoa.

Cách đưa dẫn chứng

Tiêu chí Giải thích
Xác thực Có thật, kiểm chứng được; không bịa số liệu, nhân vật, câu nói của người nổi tiếng
Tiêu biểu Thể hiện rõ nhất luận điểm, không phải ví dụ “dùng cho đề nào cũng được”
Gần gũi Trải nghiệm của bản thân, người xung quanh, hoạt động trong trường, phong trào xã hội quen thuộc như hiến máu tình nguyện, tiếp sức mùa thi
Có phân tích Sau dẫn chứng phải có câu rút ra ý, nối về luận điểm

Đoạn văn mẫu về sự kiên nhẫn

Đoạn văn mẫu (221 chữ)

  Trong thời đại mọi thứ đều có thể “nhanh hơn”, kiên nhẫn không còn là đức tính của người chậm chạp mà là một năng lực quý giá của người trẻ. Kiên nhẫn không phải là ngồi yên chờ thời cơ, mà là bền bỉ làm một việc đúng đủ lâu để nó kịp mang lại kết quả. Gọi đó là năng lực, vì nó phải được rèn luyện như mọi kĩ năng: người học ngoại ngữ lặp lại một âm khó hàng trăm lần, người tập đàn chịu những ngón tay đau trước khi chơi trọn một bản nhạc. Chính năng lực ấy giúp ta vượt qua chặng khó nhất của mọi hành trình – chặng đã bỏ công mà chưa thấy kết quả. Ngược lại, thói quen muốn mọi thứ “tức thì”, được nuôi dưỡng bởi những đoạn video vài chục giây và lời khen chỉ cách một cú chạm, khiến không ít bạn trẻ bỏ cuộc giữa chừng. Tuy vậy, kiên nhẫn không đồng nghĩa với cố chấp: đi sai hướng thì cần dũng cảm dừng lại. Mỗi chúng ta có thể rèn sự kiên nhẫn từ những việc nhỏ như đọc trọn một cuốn sách hay tự giải một bài toán khó trước khi xem lời giải. Bởi lẽ, những điều có giá trị hiếm khi đến nhanh.

Vì sao đoạn văn đạt điểm cao?

  • Câu chủ đề nêu rõ vấn đề và quan điểm; câu thứ hai giải thích đúng trọng tâm “năng lực, không phải chờ đợi”.
  • Lí lẽ có dẫn chứng gần gũi (học ngoại ngữ, tập đàn), có mặt trái (thói quen “tức thì”) và phản đề (kiên nhẫn khác cố chấp).
  • Bài học cụ thể, làm được ngay; câu kết ngắn, đọng.
  • Một đoạn liền mạch, 221 chữ. Khi viết bài 600 chữ, mỗi ý trên được mở thành một đoạn với dẫn chứng cụ thể hơn.

Luyện tự chấm: ba đề, bài mẫu ba mức

Cách dùng: đọc đề, tự viết trong đúng thời gian thi, chấm bài của mình theo barem, rồi mới mở dàn ý và đọc ba bài mẫu. Các bài mẫu do ToanKhonTech tự viết; bài mức khá và trung bình cố ý mắc những lỗi học sinh hay gặp để em đối chiếu. Điểm ghi kèm là điểm tham khảo theo barem ở đầu bài. Trải nghiệm cá nhân trong bài mẫu chỉ minh họa cách đưa dẫn chứng; khi thi, hãy dùng trải nghiệm thật của em.

Đề 1 (đoạn văn): Lòng tốt không cần khán giả

Xem lời giải

Phân tích đề: dạng tư tưởng, đạo lí. Trọng tâm là động cơ của việc tốt: giúp vì người kia cần, hay vì muốn được nhìn thấy. Bài lạc đề khi chỉ bàn về lợi ích của lòng tốt nói chung.

Dàn ý gợi ý: như ví dụ ở Bước 2 của quy trình. Có thể triển khai theo hướng khác (lòng tốt trong lớp học, lòng tốt trên mạng xã hội) nếu vẫn giữ trọng tâm và lập luận chặt.

Mức tốt · 2,0/2,0 điểm · 230 chữ

  Lòng tốt thật sự không cần khán giả, bởi giá trị của nó nằm ở người được giúp chứ không ở số người chứng kiến. “Khán giả” là những ánh mắt, lời khen, lượt thích mà người làm việc tốt có thể nhận về; lòng tốt không cần khán giả là khi ta giúp ai đó chỉ vì thấy họ cần. Làm điều tốt trong lặng lẽ giữ trọn sự tôn trọng cho người nhận. Cô lao công trường em nhặt vỏ chai suốt hai năm, bán đi để mua vở cho một bạn lớp 10 nhà khó khăn, và dặn chúng em đừng kể với ai vì “nói ra thì con bé ngại”. Nhờ sự lặng lẽ ấy, bạn có vở đi học mà không phải xấu hổ vì hoàn cảnh. Ngược lại, khi việc thiện được dàn dựng để quay phim, người được giúp dễ thành đạo cụ, nỗi khó khăn của họ bị phơi ra trước hàng nghìn người lạ. Tuy vậy, không phải việc tốt nào được chia sẻ cũng đáng chê: lời kêu gọi quyên góp cho vùng lũ cần lan rộng, công khai từng khoản tiền giúp minh bạch. Điều cần giữ là động cơ trong sáng và sự tôn trọng người nhận. Với em, lòng tốt ấy bắt đầu từ việc giảng lại bài cho bạn ngồi cạnh mà không cần ai biết.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Câu đầu nêu đủ ý kiến và lí do đồng tình
Giải thích 0,25/0,25 Cụ thể hóa “khán giả” thành ánh mắt, lời khen, lượt thích
Bàn luận 0,5/0,5 Hai lí lẽ đối nhau (lặng lẽ – dàn dựng); dẫn chứng cô lao công có chi tiết và câu rút ý
Phản đề, bài học 0,25/0,25 Phản đề đúng chỗ (chia sẻ để kêu gọi, minh bạch); bài học làm được ngay
Kĩ năng 0,5/0,5 Ý nối bằng “Ngược lại”, “Tuy vậy”; không khẳng định tuyệt đối
Hình thức 0,25/0,25 Một đoạn liền, dung lượng phù hợp, không lỗi

Mức khá · 1,5/2,0 điểm · 196 chữ

  Ý kiến “Lòng tốt thật sự không cần khán giả” là một ý kiến đúng đắn. Lòng tốt là sự quan tâm, giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn, còn khán giả là những người đứng xem và khen ngợi. Ý kiến muốn nói rằng khi giúp đỡ ai đó, chúng ta không nên làm để được người khác khen. Hiện nay, có nhiều người làm từ thiện rồi quay video đăng lên mạng xã hội để được nhiều người biết đến. Những việc làm như vậy khiến lòng tốt trở nên kém giá trị, vì người làm quan tâm đến hình ảnh của mình hơn là người được giúp. Ở lớp em, bạn Hưng thường âm thầm chép lại bài cho bạn cùng bàn bị ốm nghỉ học mà không kể với ai. Việc làm ấy nhỏ nhưng giúp bạn kia theo kịp bài. Những người giúp đỡ âm thầm như vậy luôn được mọi người yêu quý và trân trọng. Lòng tốt chân thành sẽ làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần rèn luyện cho mình một lòng tốt chân thành, không phô trương.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Nêu đúng vấn đề, có quan điểm (dù chỉ là “đúng đắn”, chưa nói vì sao)
Giải thích 0,25/0,25 Đúng ý cơ bản
Bàn luận 0,5/0,5 Có lí lẽ, có dẫn chứng cụ thể (bạn Hưng) và câu rút ý
Phản đề, bài học 0/0,25 Thiếu phản đề: chưa xét trường hợp chia sẻ việc tốt để kêu gọi; bài học là khẩu hiệu
Kĩ năng 0,25/0,5 Dẫn chứng thứ nhất chung chung (“có nhiều người”); câu “luôn được mọi người yêu quý” khẳng định tuyệt đối; lặp “lòng tốt chân thành”
Hình thức 0,25/0,25 Một đoạn, dung lượng phù hợp

Sửa thế nào để lên mức tốt: thay câu cuối bằng một câu phản đề (“Tuy vậy, chia sẻ việc tốt để kêu gọi người khác cùng giúp thì vẫn đáng quý, miễn là tôn trọng người nhận.”) và một việc làm cụ thể của em.

Mức trung bình · 0,75/2,0 điểm · 168 chữ

  Lòng tốt thật sự không cần khán giả là câu nói khuyên chúng ta khi giúp đỡ người khác thì không cần phải khoe cho mọi người biết. Đây là một câu nói rất hay và ý nghĩa. Lòng tốt là một phẩm chất vô cùng quan trọng mà mỗi con người cần phải có. Khi giúp đỡ người khác, chúng ta sẽ cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc, xã hội cũng trở nên tốt đẹp hơn.

  Ngày nay, có nhiều người làm việc tốt chỉ để khoe khoang, để được nổi tiếng trên mạng xã hội. Đó là những việc làm đáng bị phê phán. Lòng tốt mà phải có người xem thì không còn là lòng tốt nữa. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều người sống ích kỉ, vô cảm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác. Vì vậy, mỗi chúng ta hãy biết yêu thương, giúp đỡ mọi người xung quanh một cách chân thành để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0/0,25 Câu đầu hiểu đúng ý kiến, nhưng quan điểm chỉ là lời khen sáo “rất hay và ý nghĩa”, không nói đồng tình vì sao
Giải thích 0,25/0,25 Câu đầu kiêm giải thích, đúng nhưng sơ sài
Bàn luận 0,25/0,5 Có lí lẽ đúng nhưng không có dẫn chứng; hai câu về lợi ích của lòng tốt nói chung là lạc trọng tâm
Phản đề, bài học 0/0,25 Phê phán “ích kỉ, vô cảm” là trái chiều của lòng tốt nói chung, không phải của “lòng tốt cần khán giả”; bài học khẩu hiệu
Kĩ năng 0,25/0,5 Ý lặp (“tốt đẹp hơn” hai lần), câu sáo “vô cùng quan trọng”; khẳng định tuyệt đối “Lòng tốt mà phải có người xem thì không còn là lòng tốt nữa”
Hình thức 0/0,25 Xuống dòng thành hai đoạn – đề yêu cầu một đoạn văn

Sửa thế nào để lên mức khá: gộp thành một đoạn; thay câu khen “rất hay và ý nghĩa” bằng một câu nói rõ em đồng tình vì sao; bỏ hai câu nói chung về lòng tốt, thay bằng một dẫn chứng cụ thể về người giúp đỡ lặng lẽ; thêm câu phản đề đúng trọng tâm.

Đề 2 (bài văn): Ngại nói chuyện trực tiếp

Xem lời giải

Phân tích đề: dạng hiện tượng đời sống. Từ khóa “ngại”, “mọi việc”: vấn đề không phải là nhắn tin, mà là dùng tin nhắn thay cho cả những cuộc trò chuyện cần gặp mặt. Bài dễ lạc sang “tác hại của điện thoại” hoặc “nghiện mạng xã hội”.

Dàn ý gợi ý

  1. Mở bài: một tình huống quen (thấy cuộc gọi đến là ngại, nhắn tin thì thoải mái); nêu hiện tượng và thái độ: cần nhìn lại, không cần bài xích.
  2. Giải thích, thực trạng: né gặp mặt, né gọi điện, chọn nhắn tin cả cho việc quan trọng (xin lỗi, giải quyết mâu thuẫn, hỏi thầy cô); biểu hiện ở lớp học, gia đình, khi thuyết trình, phỏng vấn.
  3. Nguyên nhân: chủ quan (tin nhắn cho thời gian suy nghĩ, sửa lời, giấu cảm xúc; sợ bị đánh giá); khách quan (lớn lên cùng điện thoại thông minh, gia đình mỗi người một màn hình, ít hoạt động tập thể).
  4. Tác động: nhìn hai chiều – tin nhắn nhanh, tiện, giúp người nhút nhát mở lời; nhưng dùng cho “mọi việc” thì dễ hiểu lầm, quan hệ hời hợt, kĩ năng giao tiếp mai một.
  5. Giải pháp, bài học: nguyên tắc “việc quan trọng thì gặp mặt hoặc gọi điện”; tập từ việc nhỏ; bữa cơm không điện thoại; nhà trường tăng thảo luận, thuyết trình, tranh biện.
  6. Kết bài: khẳng định giá trị của trò chuyện thật.

Mức tốt · 4,0/4,0 điểm · 629 chữ

  Có lần, cô chủ nhiệm hỏi cả lớp: “Ai còn thấy ngại khi phải gọi điện cho người lạ?” Gần nửa lớp giơ tay, trong đó có em. Chúng em có thể nhắn tin hàng giờ, nhưng nhấc máy gọi một cuộc ba mươi giây lại thấy tim đập nhanh. Hiện tượng nhiều bạn trẻ ngại nói chuyện trực tiếp, quen trao đổi mọi việc qua tin nhắn không còn là chuyện riêng của người nhút nhát; nó đáng để chúng ta nhìn lại một cách bình tĩnh.

  Ngại nói chuyện trực tiếp là khi ta né những cuộc gặp mặt hay cuộc gọi, chọn nhắn tin ngay cả với những việc cần nghe giọng nói và nhìn nét mặt của nhau. Biểu hiện của nó có ở khắp nơi: cả nhóm ngồi cùng một bàn mà vẫn bàn việc qua tin nhắn, xin lỗi bạn bằng một dòng tin kèm biểu tượng cảm xúc, thấy số lạ gọi đến thì để chuông reo cho đến khi tắt. Đến khi phải thuyết trình trước lớp hay trả lời phỏng vấn, không ít bạn lúng túng dù đã chuẩn bị kĩ.

  Vì sao tin nhắn lại dễ chịu đến vậy? Trước hết, nó cho ta thời gian: được nghĩ, được xóa, được sửa cho đến khi câu chữ ổn thỏa, và không ai thấy ta đỏ mặt. Nỗi sợ bị đánh giá, sợ nói sai, vốn có ở tuổi mới lớn, vì thế tìm được chỗ trú ẩn sau màn hình. Bên cạnh đó, thế hệ chúng em lớn lên cùng điện thoại thông minh; nhiều gia đình mỗi người một màn hình ngay trong bữa cơm, nên những cuộc trò chuyện dài, có đầu có cuối, ngày càng hiếm.

  Cũng phải công bằng mà nói, nhắn tin có những ưu điểm thật: nhanh, tiện, lưu lại thông tin, và giúp người nhút nhát dám mở lời. Vấn đề không nằm ở tin nhắn, mà ở hai chữ “mọi việc”. Khi cả những điều quan trọng cũng chỉ được nói qua màn hình, lời nói mất đi phần lớn ý nghĩa của nó: giọng điệu, ánh mắt, cái gật đầu. Một chữ “ừ” trong tin nhắn có thể là đồng ý, cũng có thể là giận dỗi. Lớp em từng có hai bạn thân giận nhau gần một tháng chỉ vì một dòng tin bị hiểu sai; đến khi ngồi lại nói chuyện mười phút, mọi khúc mắc được gỡ xong. Về lâu dài, kĩ năng giao tiếp trực tiếp không được rèn luyện sẽ mai một, trong khi học tập và công việc sau này luôn đòi hỏi ta trình bày, thương lượng, lắng nghe.

  Vì vậy, điều cần làm không phải là bỏ tin nhắn, mà là lấy lại thói quen trò chuyện. Mỗi người có thể tự đặt cho mình một nguyên tắc nhỏ: việc quan trọng thì gặp mặt hoặc gọi điện; lời xin lỗi, lời cảm ơn thì nói bằng chính giọng của mình. Hãy tập từ những việc nhỏ như tự gọi điện đặt lịch khám bệnh, hỏi đường, xin ý kiến thầy cô. Gia đình có thể giữ một bữa cơm không điện thoại mỗi ngày, còn nhà trường nên tăng các hoạt động thảo luận nhóm, thuyết trình, tranh biện. Bản thân em đã bắt đầu bằng việc nhận làm người trình bày cho nhóm trong giờ Lịch sử; lần đầu giọng run, đến lần thứ ba em đã nhìn được vào mắt các bạn.

  Tin nhắn giúp chúng ta nói nhanh hơn, nhưng chỉ những cuộc trò chuyện thật mới giúp ta hiểu nhau sâu hơn. Màn hình nên là một cánh cửa mở ra cuộc gặp, chứ đừng trở thành bức tường ngăn ta với người ngồi ngay bên cạnh.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Mở bài từ tình huống thật, nêu rõ hiện tượng và thái độ “nhìn lại một cách bình tĩnh”
Giải thích, thực trạng 0,5/0,5 Định nghĩa gọn; ba biểu hiện cụ thể, quen thuộc
Nguyên nhân 0,5/0,5 Có chủ quan (sợ bị đánh giá) và khách quan (điện thoại, nếp sinh hoạt gia đình), được lí giải chứ không liệt kê
Tác động 0,5/0,5 Chỉ ra hiểu lầm, quan hệ, kĩ năng; dẫn chứng hai bạn giận nhau có câu rút ý
Nhìn nhận hai chiều 0,25/0,25 Ghi nhận ưu điểm của tin nhắn, khoanh đúng vấn đề ở hai chữ “mọi việc”
Giải pháp, bài học 0,5/0,5 Giải pháp cho cá nhân, gia đình, nhà trường; bài học bằng trải nghiệm của chính người viết
Kĩ năng 0,75/0,75 Mỗi đoạn một ý, câu chuyển đoạn rõ; dẫn chứng gần gũi, có phân tích
Hình thức 0,75/0,75 Bố cục đủ, dung lượng phù hợp, không lỗi; hình ảnh “cánh cửa – bức tường” ở kết bài tạo dấu ấn riêng

Mức khá · 3,0/4,0 điểm · 539 chữ

  Trong thời đại công nghệ, nhắn tin đã trở thành cách giao tiếp quen thuộc của giới trẻ. Tuy nhiên, có một hiện tượng đáng suy nghĩ là nhiều bạn trẻ ngại nói chuyện trực tiếp, quen trao đổi mọi việc qua tin nhắn.

  Ngại nói chuyện trực tiếp là tâm lí e ngại, né tránh việc gặp mặt hoặc gọi điện để trao đổi, thay vào đó chỉ sử dụng tin nhắn. Hiện tượng này khá phổ biến trong học sinh, sinh viên. Nhiều bạn khi có việc cần hỏi thầy cô cũng chỉ nhắn tin chứ không dám hỏi trực tiếp, kể cả khi thầy cô đang ở ngay trong lớp. Có những nhóm bạn ngồi gần nhau nhưng vẫn nhắn tin cho nhau để bàn bài tập nhóm. Thậm chí, có bạn còn ngại nghe điện thoại, nhất là khi có số lạ gọi đến, và chỉ gọi lại khi đã biết chắc đó là ai. Khi gặp mâu thuẫn, nhiều bạn cũng chọn cách nhắn một dòng tin rồi tắt máy thay vì ngồi lại nói chuyện với nhau.

  Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên. Nguyên nhân đầu tiên là do nhắn tin giúp các bạn có thời gian suy nghĩ trước khi trả lời, không sợ nói sai. Nguyên nhân thứ hai là do các bạn thiếu tự tin, sợ bị người khác đánh giá. Ngoài ra, sự phát triển của điện thoại thông minh và mạng xã hội cũng khiến việc nhắn tin trở nên quá dễ dàng, dần dần trở thành thói quen.

  Hiện tượng này gây ra nhiều tác hại. Trước hết, giao tiếp qua tin nhắn dễ gây hiểu lầm, vì người đọc không nghe được giọng nói, không thấy được nét mặt của người viết. Nhiều mâu thuẫn giữa bạn bè bắt nguồn từ những tin nhắn bị hiểu sai. Bên cạnh đó, các mối quan hệ cũng trở nên hời hợt, thiếu gắn kết khi mọi người chỉ trò chuyện qua màn hình. Quan trọng hơn, nếu không được rèn luyện, kĩ năng giao tiếp trực tiếp của các bạn sẽ ngày càng kém đi. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập và công việc sau này, khi chúng ta phải thuyết trình, phỏng vấn xin việc hay làm việc nhóm.

  Vì vậy, chúng ta cần có những giải pháp phù hợp. Mỗi bạn trẻ cần nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp trực tiếp và chủ động rèn luyện kĩ năng này trong cuộc sống hằng ngày. Gia đình nên dành nhiều thời gian trò chuyện với con cái, lắng nghe những tâm sự của con. Nhà trường cần tổ chức các hoạt động tập thể, các buổi thuyết trình, ngoại khóa để học sinh có cơ hội rèn luyện sự tự tin. Bản thân em sẽ cố gắng mạnh dạn hơn trong giao tiếp, thay vì chỉ nhắn tin như trước đây.

  Tóm lại, ngại nói chuyện trực tiếp là một hiện tượng đáng lo ngại trong giới trẻ hiện nay. Mỗi chúng ta cần thay đổi thói quen này để có những mối quan hệ tốt đẹp và chuẩn bị hành trang vững vàng cho tương lai.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Nêu đúng hiện tượng
Giải thích, thực trạng 0,5/0,5 Định nghĩa đúng, có ba biểu hiện
Nguyên nhân 0,5/0,5 Đủ chủ quan và khách quan, dù trình bày kiểu liệt kê “thứ nhất, thứ hai”
Tác động 0,5/0,5 Đủ ba tác động, có lí giải
Nhìn nhận hai chiều 0/0,25 Bài một chiều: không ghi nhận ưu điểm của tin nhắn; kết luận “thay đổi thói quen này” nghe như phải bỏ hẳn nhắn tin
Giải pháp, bài học 0,25/0,5 Giải pháp đúng hướng nhưng chung (“cần nhận thức”, “cố gắng mạnh dạn hơn”), chưa có việc làm cụ thể
Kĩ năng 0,5/0,75 Lập luận mạch lạc (0,5); dẫn chứng chung chung “nhiều bạn”, “nhiều mâu thuẫn” – không có một trường hợp cụ thể (0)
Hình thức 0,5/0,75 Bố cục, chính tả đạt; diễn đạt khuôn mẫu, chưa có dấu ấn riêng (sáng tạo 0)

Sửa thế nào để lên mức tốt: thêm một đoạn ngắn ghi nhận mặt tích cực của tin nhắn và khoanh vấn đề vào chữ “mọi việc”; thay “nhiều mâu thuẫn” bằng một trường hợp cụ thể có kết quả; biến giải pháp thành nguyên tắc làm được ngay.

Mức trung bình · 2,0/4,0 điểm · 444 chữ

  Ngày nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, điện thoại thông minh đã trở thành vật không thể thiếu đối với mỗi người. Bên cạnh những lợi ích to lớn, nó cũng gây ra nhiều hệ lụy, trong đó có hiện tượng nhiều bạn trẻ ngại nói chuyện trực tiếp, chỉ quen nhắn tin. Đây là một hiện tượng đáng báo động.

  Hiện nay, hiện tượng này đang diễn ra rất phổ biến ở giới trẻ. Đi đâu chúng ta cũng thấy các bạn trẻ cắm mặt vào điện thoại. Trong gia đình, các thành viên ít nói chuyện với nhau. Ở trường học, giờ ra chơi các bạn cũng chỉ chăm chú vào màn hình mà không chơi các trò chơi tập thể như trước.

  Nguyên nhân của hiện tượng này là do điện thoại quá hấp dẫn. Trên điện thoại có rất nhiều trò chơi, mạng xã hội, video giải trí khiến các bạn trẻ bị cuốn vào lúc nào không hay. Ngoài ra, cha mẹ bận rộn với công việc nên không quan tâm đến con cái, để con tự chơi với điện thoại từ khi còn nhỏ. Một số bạn lại lười vận động, chỉ thích ở trong phòng một mình.

  Hiện tượng này gây ra rất nhiều tác hại. Thứ nhất, sử dụng điện thoại nhiều làm cho mắt bị cận thị, cơ thể mệt mỏi, mất ngủ. Thứ hai, các bạn trẻ dành quá nhiều thời gian cho điện thoại nên kết quả học tập sa sút. Thứ ba, các bạn trở nên ngại giao tiếp, khi ra ngoài xã hội không biết cách ứng xử, không dám nói lên suy nghĩ của mình. Có thể nói, điện thoại đang dần dần cướp đi tuổi trẻ của chúng ta.

  Để khắc phục hiện tượng này, mỗi bạn trẻ cần nâng cao ý thức, hạn chế sử dụng điện thoại. Gia đình cần quan tâm đến con cái nhiều hơn, dành thời gian trò chuyện cùng con. Nhà trường cần tổ chức nhiều hoạt động bổ ích. Xã hội cần tuyên truyền để mọi người hiểu được tác hại của việc nghiện điện thoại.

  Là một học sinh, em nhận thấy mình cần phải sử dụng điện thoại một cách hợp lí, dành thời gian cho học tập và gia đình. Em sẽ cố gắng nói chuyện trực tiếp nhiều hơn với mọi người xung quanh, nhất là với ông bà, cha mẹ.

  Tóm lại, hiện tượng ngại nói chuyện trực tiếp là một hiện tượng xấu cần phải loại bỏ. Mỗi chúng ta hãy chung tay hành động để xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Mở bài có nêu đúng hiện tượng
Giải thích, thực trạng 0,25/0,5 Không giải thích; thực trạng lạc sang “cắm mặt vào điện thoại” chứ không phải ngại nói chuyện trực tiếp
Nguyên nhân 0,25/0,5 Chỉ có nguyên nhân khách quan, lại là nguyên nhân của nghiện điện thoại
Tác động 0,25/0,5 Chỉ ý thứ ba đúng trọng tâm; cận thị, mất ngủ là tác hại của điện thoại nói chung
Nhìn nhận hai chiều 0/0,25 Không có; kết luận cực đoan “hiện tượng xấu cần phải loại bỏ”
Giải pháp, bài học 0,25/0,5 Giải pháp khẩu hiệu (“nâng cao ý thức”, “tuyên truyền”); có ý nói chuyện với ông bà, cha mẹ
Kĩ năng 0,25/0,75 Trình tự rõ nhưng lập luận lệch hướng; không có dẫn chứng cụ thể nào
Hình thức 0,5/0,75 Bố cục, chính tả đạt; lặp “hiện tượng” nhiều lần, câu sáo “đáng báo động”, “cướp đi tuổi trẻ”

Sửa thế nào để lên mức khá: viết lại thân bài quanh chữ giao tiếp: định nghĩa ngại nói chuyện trực tiếp, biểu hiện trong lớp và gia đình, nguyên nhân tâm lí (sợ bị đánh giá), tác động đến sự thấu hiểu; bỏ các ý về cận thị, mất ngủ.

Đề 3 (bài văn): Chọn nghề theo đam mê hay theo nhu cầu xã hội

Xem lời giải

Phân tích đề: dạng câu hỏi lựa chọn. Đề không bắt chọn một trong hai; bài tốt đánh giá cả hai ý kiến (mặt đúng, giới hạn) rồi nêu quan điểm riêng có lí giải. Bài dễ lạc sang “vai trò của đam mê trong cuộc sống”.

Dàn ý gợi ý

  1. Mở bài: tình huống chọn ngành ở lớp 12; nêu hai ý kiến và quan điểm: cần tìm chỗ giao nhau giữa đam mê, năng lực và nhu cầu xã hội.
  2. Giải thích: đam mê là niềm yêu thích sâu sắc, bền bỉ; nhu cầu xã hội là ngành nghề đang và sẽ cần người làm.
  3. Ý kiến thứ nhất: đúng ở chỗ đam mê tạo động lực bền bỉ; giới hạn – đam mê tuổi mười tám có thể mơ hồ, nhất thời.
  4. Ý kiến thứ hai: đúng ở chỗ cho cơ hội việc làm, sự ổn định; giới hạn – nhu cầu thay đổi nhanh, chạy theo ngành “đang được săn đón” mà không hợp dễ bỏ dở; ngành nào cũng chỉ cần người giỏi.
  5. Quan điểm riêng: đặt cạnh nhau ba câu hỏi “thích gì – giỏi gì – xã hội cần gì”; đam mê có thể lớn lên từ việc làm tốt; phê phán chọn nghề theo đám đông.
  6. Bài học: trải nghiệm nghề thật, hỏi người trong nghề, tra cứu thông tin từ nguồn chính thức.
  7. Kết bài: nghề nghiệp là con đường dài, không phải tấm vé chọn một lần.

Mức tốt · 4,0/4,0 điểm · 659 chữ

  Mùa làm hồ sơ tuyển sinh, trên bàn học của em có hai tờ giấy: một tờ ghi những ngành em thích, một tờ ghi những ngành bố mẹ bảo “dễ xin việc”. Hai danh sách gần như không trùng nhau. Nhiều bạn cùng tuổi cũng đang đứng giữa hai lời khuyên: chọn nghề theo đam mê, hay theo nhu cầu của xã hội. Theo em, đây không phải phép chọn một trong hai; lựa chọn khôn ngoan nằm ở chỗ hai điều ấy gặp nhau, cùng với năng lực thật của mỗi người.

  Đam mê là niềm yêu thích sâu sắc và bền bỉ với một lĩnh vực, đủ để ta chịu khó cả khi công việc trở nên nhàm chán. Nhu cầu của xã hội là những ngành nghề đang và sẽ cần người làm, nơi người lao động có việc làm và thu nhập ổn định. Hai ý kiến vì thế đại diện cho hai câu hỏi khác nhau: “Mình muốn gì?” và “Cuộc sống cần gì ở mình?”.

  Chọn nghề theo đam mê có lí, bởi nghề nghiệp gắn với ta mấy chục năm. Người yêu việc mình làm sẽ tự tìm tòi, chịu được những ngày khó khăn và thường làm tốt hơn người chỉ làm cho xong. Nhưng đam mê ở tuổi mười tám nhiều khi còn mơ hồ. Thích xem phim chưa chắc đã hợp với nghề dựng phim, nơi người ta ngồi cắt từng giây hình suốt nhiều đêm; thích chơi trò chơi điện tử cũng khác xa với đam mê lập trình. Nếu chỉ dựa vào cảm hứng nhất thời, ta dễ vỡ mộng ngay năm đầu đại học.

  Chọn nghề theo nhu cầu xã hội cũng có lí, vì nó cho ta cơ hội việc làm và một chỗ đứng vững vàng. Tuy vậy, nhu cầu thay đổi rất nhanh: ngành được săn đón hôm nay có thể thừa người sau vài năm. Người chọn ngành chỉ vì “đang hot” mà không hợp với mình sẽ học trong mệt mỏi; vả lại, ngành nào cũng chỉ thật sự cần người làm giỏi. Anh họ em từng đỗ một ngành nhiều người ngưỡng mộ, nhưng sau hai năm học trong chán nản, anh chuyển sang học nghề sửa chữa ô tô, việc anh mê từ nhỏ. Giờ anh là thợ chính của một xưởng sửa xe và đang tự học thêm về xe điện.

  Vì vậy, em nghĩ cách chọn hợp lí là đặt ba câu hỏi cạnh nhau: em thích gì, em làm tốt điều gì, và xã hội cần gì. Ngành nghề nằm ở chỗ giao nhau của ba câu trả lời ấy là lựa chọn đáng cân nhắc nhất. Hơn nữa, đam mê không phải lúc nào cũng có sẵn từ đầu; nhiều khi nó lớn lên khi ta làm một việc đủ lâu và đủ giỏi để thấy ý nghĩa của nó. Dĩ nhiên, cũng cần phê phán những lựa chọn chạy theo bạn bè, theo áp lực “cho bằng người ta”, vì đó là chọn nghề bằng nỗi sợ chứ không bằng sự hiểu biết.

  Để chọn đúng, học sinh lớp 12 nên tìm hiểu nghề bằng trải nghiệm thật: tham gia hoạt động hướng nghiệp, hỏi chuyện người đang làm nghề, thử làm việc gần với ngành mình định chọn trong kì nghỉ. Thông tin tuyển sinh và việc làm cần tra cứu từ nguồn chính thức, không chỉ nghe truyền miệng. Em đã dành một tuần hè theo chân cô em là y tá ở trạm y tế xã, và tuần ấy giúp em biết mình hợp với công việc chăm sóc người khác hơn em tưởng.

  Nghề nghiệp không phải một tấm vé chọn một lần rồi thôi, mà là con đường ta còn đi rất lâu. Chọn nơi mình yêu, mình giỏi và cuộc đời cần, ta sẽ có cả động lực để đi xa lẫn lí do để đi tiếp.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Mở bài bằng tình huống thật, nêu rõ hai ý kiến và quan điểm
Giải thích 0,25/0,25 Giải thích cả hai khái niệm, quy về hai câu hỏi
Ý kiến thứ nhất 0,5/0,5 Có mặt đúng và giới hạn, ví dụ “thích xem phim – nghề dựng phim” rất cụ thể
Ý kiến thứ hai 0,5/0,5 Có mặt đúng, giới hạn, dẫn chứng người anh họ
Quan điểm riêng 0,5/0,5 Ba câu hỏi “thích – giỏi – cần” được đặt cạnh nhau rõ ràng; ý “đam mê lớn lên từ việc làm giỏi” là ý sâu, ít bạn nghĩ tới; có phê phán
Bài học 0,5/0,5 Việc làm cụ thể, trải nghiệm thật của người viết
Kĩ năng 0,75/0,75 Hai ý kiến được xét theo cùng một tiêu chí (đúng ở đâu, giới hạn ở đâu), chuyển đoạn mạch lạc
Hình thức 0,75/0,75 Bố cục, dung lượng, sáng tạo đạt; dùng từ vẫn đạt vì cả bài chỉ có một từ khẩu ngữ (“hot”) lại đặt trong ngoặc kép, đúng mức “hầu như không lỗi”

Lưu ý về dùng từ: bài vẫn đạt trọn điểm, nhưng khi thi em nên tránh hẳn từ “hot” và viết “ngành đang được săn đón”. Ở bài văn, giám khảo đọc cả cách dùng từ chứ không chỉ đọc ý; một từ khẩu ngữ lẻ có ngoặc kép thì chưa bị trừ, nhưng lặp lại nhiều lần sẽ mất điểm dùng từ.

Mức khá · 3,0/4,0 điểm · 523 chữ

  Chọn nghề là một trong những quyết định quan trọng nhất của tuổi trẻ. Hiện nay có hai ý kiến trái ngược nhau: một số người cho rằng nên chọn nghề theo đam mê, số khác lại cho rằng nên chọn nghề theo nhu cầu xã hội. Theo em, người trẻ nên chọn nghề theo đam mê.

  Đam mê là sự yêu thích mãnh liệt đối với một công việc, một lĩnh vực nào đó. Nhu cầu xã hội là những ngành nghề mà xã hội đang cần nhiều nhân lực, dễ xin việc và có thu nhập ổn định.

  Trước hết, đam mê là động lực giúp con người vượt qua khó khăn. Khi làm công việc mình yêu thích, chúng ta sẽ không cảm thấy mệt mỏi, chán nản mà luôn muốn cố gắng hơn. Một người yêu nghề sẽ sẵn sàng thức khuya để hoàn thành công việc, sẵn sàng học thêm những điều mới mà không cần ai nhắc nhở. Có câu nói nổi tiếng: “Hãy chọn công việc bạn yêu thích, và bạn sẽ không phải làm việc một ngày nào trong đời.” Điều đó cho thấy đam mê quan trọng như thế nào đối với mỗi người.

  Thứ hai, người làm việc bằng đam mê thường sáng tạo và thành công hơn. Nhiều người thành công trên thế giới đều bắt đầu từ đam mê của mình. Họ dám theo đuổi điều mình thích dù bị nhiều người phản đối, và cuối cùng đã đạt được những thành tựu lớn. Nếu không có đam mê, họ đã bỏ cuộc từ những thất bại đầu tiên.

  Bên cạnh đó, chọn nghề theo nhu cầu xã hội cũng có những ưu điểm như dễ xin việc, thu nhập ổn định. Tuy nhiên, nếu chỉ chọn nghề vì dễ xin việc mà không yêu thích, chúng ta sẽ làm việc trong sự gò bó, chán nản. Nhiều bạn trẻ hiện nay chọn ngành theo ý muốn của bố mẹ hoặc theo xu hướng, sau đó bỏ học giữa chừng hoặc ra trường làm trái ngành. Đó là một sự lãng phí lớn về thời gian, tiền bạc của gia đình và xã hội.

  Tuy nhiên, đam mê cũng cần đi kèm với năng lực. Nếu chỉ có đam mê mà không có khả năng thì cũng khó thành công. Vì vậy, bên cạnh việc theo đuổi đam mê, chúng ta cũng cần không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao năng lực của bản thân.

  Là học sinh lớp 12 đang đứng trước ngưỡng cửa chọn nghề, em sẽ tìm hiểu kĩ bản thân mình thích gì, giỏi gì. Em sẽ tham gia các buổi tư vấn hướng nghiệp của nhà trường, đọc thông tin về các ngành học và hỏi ý kiến thầy cô, cha mẹ. Tuy vậy, quyết định cuối cùng phải là của em, vì em là người sẽ gắn bó với nghề đó trong nhiều năm.

  Tóm lại, chọn nghề theo đam mê là lựa chọn đúng đắn của người trẻ. Hãy sống hết mình với đam mê để tuổi trẻ không phải hối tiếc.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Nêu rõ hai ý kiến và lựa chọn của mình
Giải thích 0,25/0,25 Đúng, đủ hai khái niệm
Ý kiến thứ nhất 0,25/0,5 Chỉ thấy mặt đúng; không chỉ ra giới hạn của đam mê (mơ hồ, nhất thời)
Ý kiến thứ hai 0,5/0,5 Có ưu điểm và hạn chế, có lí giải
Quan điểm riêng 0,25/0,5 Có bổ sung “đam mê cần năng lực” nhưng chỉ hai câu, mâu thuẫn với kết luận “chọn nghề theo đam mê là đúng đắn”
Bài học 0,5/0,5 Việc làm cụ thể (tư vấn hướng nghiệp, tự tìm hiểu)
Kĩ năng 0,5/0,75 Lập luận rõ (0,5); dẫn chứng không đạt (0): câu nói “nổi tiếng” không rõ nguồn, “nhiều người thành công trên thế giới” không chỉ ra được ai
Hình thức 0,5/0,75 Bố cục, chính tả đạt; diễn đạt khuôn mẫu (“Trước hết”, “Thứ hai”, “Bên cạnh đó”), chưa có dấu ấn riêng

Sửa thế nào để lên mức tốt: thêm giới hạn của đam mê bằng một ví dụ cụ thể; thay câu nói không rõ nguồn bằng một trường hợp em biết chắc; viết lại kết luận cho khớp với ý “đam mê cần năng lực”.

Mức trung bình · 2,0/4,0 điểm · 451 chữ

  Có ý kiến cho rằng người trẻ nên chọn nghề theo đam mê, có ý kiến lại cho rằng nên chọn nghề theo nhu cầu xã hội. Em đồng ý với ý kiến thứ nhất, bởi vì đam mê là thứ vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ.

  Đam mê là niềm yêu thích cháy bỏng của con người đối với một điều gì đó. Mỗi người có một đam mê khác nhau, có người đam mê đọc sách, có người đam mê thể thao, có người đam mê âm nhạc, du lịch. Đam mê giúp cuộc sống của chúng ta trở nên có ý nghĩa hơn, giống như ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn mỗi người.

  Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất của đời người. Nếu không có đam mê, tuổi trẻ sẽ trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Người có đam mê luôn sống tích cực, yêu đời, không ngại khó khăn, gian khổ. Họ luôn cố gắng hết mình để đạt được ước mơ của mình dù con đường phía trước có nhiều chông gai. Đam mê còn giúp chúng ta khám phá bản thân, phát triển những khả năng tiềm ẩn bên trong mình. Có thể nói, đam mê chính là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công, là kim chỉ nam cho mọi hành động của con người.

  Ngược lại, chọn nghề theo nhu cầu xã hội là một suy nghĩ thực dụng. Những người chọn nghề vì tiền sẽ không bao giờ hạnh phúc. Họ chỉ làm việc như một cái máy, ngày qua ngày mà không có niềm vui. Dù kiếm được nhiều tiền, cuộc sống của họ vẫn trống rỗng, vô nghĩa.

  Trong cuộc sống hiện nay, vẫn còn nhiều bạn trẻ sống không có đam mê, không có mục tiêu. Các bạn chỉ biết ăn chơi, lười biếng, suốt ngày lướt mạng xã hội. Đó là lối sống đáng bị phê phán. Chúng ta cần lên án những bạn trẻ sống thiếu lí tưởng như vậy.

  Là một học sinh, em sẽ cố gắng học tập thật tốt để thực hiện đam mê của mình. Em sẽ không bỏ cuộc trước khó khăn, thử thách, dù có ai nói gì đi chăng nữa. Em mong rằng các bạn trẻ cũng sẽ tìm được đam mê của riêng mình và dũng cảm theo đuổi nó.

  Tóm lại, đam mê có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người, đặc biệt là đối với tuổi trẻ. Mỗi chúng ta hãy sống hết mình với đam mê để không phải hối tiếc khi tuổi trẻ đã qua đi. Hãy nhớ rằng: tuổi trẻ chỉ đến một lần trong đời.

Tiêu chí Điểm Nhận xét
Xác định vấn đề 0,25/0,25 Mở bài nêu đúng hai ý kiến và lựa chọn
Giải thích 0,25/0,25 Giải thích đúng “đam mê”; chưa giải thích “nhu cầu xã hội” nhưng nghĩa đã rõ từ đề
Ý kiến thứ nhất 0,25/0,5 Lạc sang vai trò của đam mê trong cuộc sống (đọc sách, thể thao, du lịch), không còn bàn chuyện chọn nghề
Ý kiến thứ hai 0/0,5 Bác bỏ cực đoan, đánh đồng “nhu cầu xã hội” với “vì tiền”, không có lí lẽ
Quan điểm riêng 0,25/0,5 Có quan điểm nhưng chỉ lặp lại ý kiến thứ nhất, không lí giải thêm
Bài học 0,25/0,5 Khẩu hiệu (“cố gắng học tập thật tốt”, “không bỏ cuộc”); phần phê phán lối sống ăn chơi lạc đề
Kĩ năng 0,25/0,75 Lập luận lệch hướng, không có dẫn chứng
Hình thức 0,5/0,75 Bố cục, chính tả đạt; nhiều câu sáo (“ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn”, “tuổi trẻ chỉ đến một lần”)

Sửa thế nào để lên mức khá: đưa mọi đoạn về câu hỏi chọn nghề; xét ý kiến thứ hai một cách công bằng (cơ hội việc làm, sự ổn định) trước khi chỉ ra giới hạn; bỏ đoạn phê phán lối sống ăn chơi.

Lỗi mất điểm

Lạc đề

Đề yêu cầu Bài lạc sang Cách giữ trọng tâm
Lòng tốt không cần khán giả Lợi ích của lòng tốt nói chung Mỗi câu tự hỏi: câu này có nói về động cơ của việc tốt không?
Ngại nói chuyện trực tiếp Tác hại của nghiện điện thoại (cận thị, mất ngủ) Bám vào giao tiếp: hiểu lầm, kĩ năng nói, sự gắn kết
Chọn nghề theo đam mê hay nhu cầu xã hội Vai trò của đam mê trong cuộc sống Xét cả hai vế, luôn quay về câu hỏi chọn nghề

Thiếu dẫn chứng hoặc dẫn chứng không thuyết phục

Dẫn chứng yếu Vì sao mất điểm Dẫn chứng tốt hơn
“Có nhiều người làm từ thiện rồi quay video.” Chung chung, ai viết cũng được Một trường hợp em biết: ai, làm gì, kết quả ra sao
“Có câu nói nổi tiếng: …” Không rõ nguồn, có thể sai Trải nghiệm thật hoặc sự việc em chắc chắn
Kể dẫn chứng dài rồi chuyển ý Không có câu rút ý Thêm “Điều đó cho thấy…” nối về luận điểm

Diễn đạt

Câu mắc lỗi Lỗi Sửa lại
Đây là một câu nói rất hay và ý nghĩa. Sáo rỗng, không nói được gì Ý kiến chạm đúng vào động cơ của việc tốt.
Hiện nay, hiện tượng này đang diễn ra rất phổ biến. Lặp từ, khẳng định không căn cứ Ngay trong lớp em, nhiều nhóm ngồi cùng bàn vẫn bàn việc qua tin nhắn.
Qua những dẫn chứng trên cho thấy lòng biết ơn rất quan trọng. Thiếu chủ ngữ Những dẫn chứng trên cho thấy lòng biết ơn rất quan trọng.
Mỗi chúng ta cần nâng cao ý thức. Khẩu hiệu, không có việc làm Từ tuần này, em tự gọi điện xin phép thầy cô thay vì nhắn tin.
Điện thoại đang cướp đi tuổi trẻ của chúng ta. Cường điệu, cảm tính Dùng không giới hạn, điện thoại lấy đi những giờ lẽ ra dành cho trò chuyện.

Mẹo làm bài

Tự kiểm tra nhanh

  1. Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí gồm những bước triển khai nào ở thân bài?
Xem đáp án

Giải thích → bàn luận (lí lẽ, dẫn chứng, ý nghĩa) → mở rộng, phản đề → bài học nhận thức và hành động.

  1. Nêu hai câu hỏi giúp viết phần phản đề.
Xem đáp án

Ai làm ngược lại và vì sao điều đó đáng phê phán? Ý kiến này có chỗ nào cần hiểu cho đúng, tránh cực đoan?

  1. Với đề “Thói quen lướt video ngắn hàng giờ mỗi ngày của nhiều bạn trẻ”, em sẽ nêu những nguyên nhân nào?
Xem đáp án

Chủ quan: thiếu kĩ năng quản lí thời gian, tìm cách giải tỏa căng thẳng, ngại những việc cần tập trung lâu. Khách quan: nội dung được thiết kế ngắn, hấp dẫn, tự động phát nối tiếp; thiếu hoạt động ngoài trời, thiếu sự đồng hành của gia đình.

  1. Vì sao không nên dùng câu nói “của một người nổi tiếng” mà em không nhớ chính xác?
Xem đáp án

Dẫn chứng không xác thực làm giảm độ tin cậy của bài viết và có thể bị trừ điểm kĩ năng; tốt hơn là dùng dẫn chứng em chắc chắn hoặc trải nghiệm thật của bản thân.

  1. Bài văn mẫu mức khá ở Đề 2 mất điểm “nhìn nhận hai chiều” vì sao? Em sửa bằng một câu nào?
Xem đáp án

Bài chỉ nói tác hại, không ghi nhận ưu điểm của tin nhắn, nên thành một chiều. Có thể thêm: “Nhắn tin vẫn có ưu điểm: nhanh, tiện, giúp người nhút nhát dám mở lời; điều đáng lo là khi ta dùng nó cho cả những việc cần gặp mặt.”

Kiểm tra lại kiến thức vừa ôn

Làm 10 câu luyện tập về viết nghị luận xã hội và xem lời giải ngay sau mỗi câu.

Luyện tập ngay

Đề có câu hỏi về chủ đề này