Mục lục (11 phần)
Phần Viết (6,0 điểm) gồm một đoạn văn khoảng 200 chữ (2,0 điểm) và một bài văn khoảng 600 chữ (4,0 điểm). Tùy cách ghép đề, nghị luận văn học có thể là câu 1 (đoạn văn phân tích chính ngữ liệu ở phần Đọc hiểu) hoặc câu 2 (bài văn phân tích, đánh giá một văn bản văn học in kèm trong đề). Văn bản luôn nằm ngoài sách giáo khoa, nên điều quyết định điểm là kĩ năng đọc và phân tích, không phải văn mẫu học thuộc.
Bài ôn đi theo trình tự làm bài thật: biết bài viết được chấm theo những tiêu chí nào qua barem, làm bài theo bốn bước, rồi luyện tự chấm với ba đề có bài mẫu ở ba mức tốt, khá, trung bình.
Barem tự chấm
Barem dưới đây do ToanKhonTech biên soạn để em tự chấm. Barem bám theo cách phân nhóm điểm của hướng dẫn chấm đề thi tốt nghiệp những năm gần đây (nội dung kiến thức – kĩ năng – hình thức và ngôn ngữ); các dòng chi tiết là cách chia của bài ôn. Khi thi thật, giám khảo chấm theo hướng dẫn chấm của Bộ cho từng đề. Các đề trong ứng dụng cũng chấm theo khung ba nhóm này, tiêu chí nội dung được chia nhỏ theo từng đề. Khi tự chấm, đi từng dòng; dòng nào không chỉ ra được câu văn làm “bằng chứng” trong bài thì không cho điểm.
Đoạn văn khoảng 200 chữ (2,0 điểm)
| Tiêu chí (điểm) | Đạt trọn điểm khi | Mất điểm khi |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề (0,25) | Câu mở đoạn nêu tên văn bản, đúng đối tượng đề hỏi và một nhận định chung | Câu mở đoạn chung chung (“bài thơ rất hay”), lệch đối tượng đề hỏi |
| Phân tích nội dung (0,5) | Hai, ba ý, ý nào cũng có dẫn chứng trích chính xác | Kể lại, diễn xuôi văn bản: tối đa 0,25 |
| Phân tích nghệ thuật (0,25) | Chỉ ra tín hiệu nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp, nhịp, chi tiết) và tác dụng cụ thể | Chỉ gọi tên biện pháp; tác dụng chung chung “làm câu thơ hay hơn”; gọi sai biện pháp |
| Đánh giá (0,25) | Câu kết khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật | Thiếu đánh giá; chuyển sang bài học đạo đức chung |
| Kĩ năng phân tích, lập luận (0,5) | Dẫn – phân tích – đánh giá liền mạch, không kể lại | Lặp một kiểu câu, diễn xuôi: 0,25; trích sai hoặc bịa thông tin ngoài văn bản: 0 |
| Hình thức và ngôn ngữ (0,25) | Một đoạn, 100–300 chữ, đúng chính tả, ngữ pháp | Xuống dòng; quá ngắn hoặc quá dài; nhiều lỗi câu |
Bài văn khoảng 600 chữ (4,0 điểm)
| Tiêu chí (điểm) | Đạt trọn điểm khi | Mất điểm khi |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề (0,25) | Mở bài nêu văn bản, vấn đề nghị luận và ý kiến cần làm sáng tỏ (nếu có) | Mở bài dài mà không nói bài viết sẽ làm gì |
| Giới thiệu, giải thích ý kiến (0,25) | Nói rõ ý kiến khẳng định điều gì, gồm mấy vế | Bỏ qua ý kiến, chỉ phân tích chung |
| Luận điểm thứ nhất (0,75) | Phân tích có dẫn chứng, kết hợp nội dung với nghệ thuật | Diễn xuôi từng câu: tối đa 0,5 |
| Luận điểm thứ hai (0,75) | Như trên, bám vế còn lại của ý kiến | Chỉ một, hai câu: 0,25 |
| Đánh giá nghệ thuật (0,25) | Khái quát nét đặc sắc: thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh | Liệt kê chung “ngôn ngữ giản dị, hình ảnh đặc sắc” |
| Đánh giá ý kiến, giá trị (0,25) | Khái quát được giá trị của văn bản; tốt hơn nữa là nói được ý kiến đúng ở đâu, sâu ở đâu. Bài bỏ qua ý kiến đã bị trừ ở dòng giải thích ý kiến và dòng kĩ năng, dòng này không trừ thêm | Chỉ kết bằng cảm xúc chung (“bài thơ để lại cho em nhiều cảm xúc”) |
| Kĩ năng phân tích, lập luận (0,5) | Luận điểm bám ý kiến, mỗi đoạn một ý, chuyển đoạn mạch lạc | Phân tích theo thứ tự câu mà không quy về luận điểm |
| Trích dẫn (0,25) | Chính xác, vừa đủ, có phân tích | Trích sai chữ; chép cả khổ, cả đoạn |
| Bố cục, dung lượng (0,25) | Đủ ba phần; 400–800 chữ | Thiếu mở bài hoặc kết bài; dưới 400 hoặc trên 800 chữ |
| Chính tả, ngữ pháp, dùng từ (0,25) | Hầu như không lỗi, thuật ngữ đúng | Lỗi lặp lại nhiều lần; dùng sai thuật ngữ |
| Sáng tạo (0,25) | Có phát hiện riêng, cách diễn đạt có hình ảnh | Ý và câu ai cũng viết được |
Đề không kèm ý kiến thì 1,5 điểm của hai luận điểm chia theo nội dung và nghệ thuật, hoặc theo từng phần của văn bản; dòng “Giới thiệu, giải thích ý kiến” dành cho phần khái quát văn bản (nhan đề, mạch nội dung, cảm hứng chủ đạo), dòng “Đánh giá ý kiến, giá trị” chỉ xét phần đánh giá giá trị của văn bản.
| Mức tham khảo | Đoạn văn (2,0 điểm) | Bài văn (4,0 điểm) |
|---|---|---|
| Tốt | 1,75–2,0 | 3,5–4,0 |
| Khá | 1,25–1,5 | 2,75–3,25 |
| Trung bình | 0,75–1,0 | 2,0–2,5 |
Quy trình làm bài bốn bước
| Bước | Đoạn văn | Bài văn | Kết quả của bước |
|---|---|---|---|
| 1. Phân tích đề, đọc văn bản | 4 phút | 7 phút | Đối tượng phân tích, tín hiệu nghệ thuật đã gạch chân |
| 2. Lập dàn ý | 4 phút | 8 phút | Bảng ý – dẫn chứng – ý nghĩa |
| 3. Viết | 14 phút | 30 phút | Đoạn hoặc bài hoàn chỉnh |
| 4. Tự soát | 3 phút | 5 phút | Trích dẫn đã đối chiếu, lỗi đã sửa |
Bước 1: Phân tích đề, đọc văn bản
- Gạch chân đối tượng: cả văn bản, một khổ, một nhân vật, một chi tiết. Đề hỏi đối tượng nào thì chỉ phân tích đối tượng ấy.
- Gạch chân kiểu yêu cầu: phân tích; phân tích, đánh giá; so sánh. Nếu đề kèm một ý kiến, tách ý kiến thành từng vế: mỗi vế là một luận điểm.
- Đọc văn bản hai lượt. Lượt một nắm nội dung, mạch cảm xúc. Lượt hai gạch chân tín hiệu nghệ thuật: từ láy, so sánh, đối, câu hỏi tu từ, hình ảnh lặp lại, chi tiết lạ, câu kết.
Bước 2: Lập dàn ý
Dàn ý nghị luận văn học nên lập thành bảng nhỏ, mỗi dòng một ý:
Bước 3: Viết
- Viết câu mở đoạn (hoặc mở bài) nêu đúng đối tượng và nhận định chung.
- Mỗi ý theo công thức D – P – Đ: Dẫn (trích ngắn, chính xác) → Phân tích (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp, nhịp) → Đánh giá (ý nghĩa, gắn với vấn đề).
- Bài văn: mỗi luận điểm một đoạn, câu đầu đoạn nhắc lại vế của ý kiến (“Đằng sau chân dung bà Tú là…”).
- Trích thơ chỉ một, hai dòng hoặc một cụm từ; các dòng cách nhau bằng dấu “/”.
Bước 4: Tự soát
| Câu hỏi tự soát | Chưa đạt thì sửa thế nào |
|---|---|
| Câu đầu đã nêu đúng đối tượng đề hỏi chưa? | Viết lại cho khớp từ khóa của đề |
| Mỗi trích dẫn đã đúng từng chữ chưa? | Đối chiếu lại với văn bản trong đề, sửa ngay |
| Mỗi biện pháp được gọi tên đã có tác dụng cụ thể chưa? | Thêm một câu “… gợi …, làm nổi bật …” |
| Có câu nào chỉ kể lại nội dung? | Chuyển thành câu phân tích tín hiệu nghệ thuật |
| Đã có câu đánh giá giá trị, nghệ thuật chưa? | Thêm câu kết khái quát |
| Có thông tin nào không có trong đề (tác giả, hoàn cảnh sáng tác)? | Xóa nếu không chắc chắn |
Các dạng đề thường gặp
- Phân tích, đánh giá một bài thơ, đoạn thơ: chủ đề, cảm xúc và nét đặc sắc nghệ thuật.
- Phân tích nhân vật, chi tiết, tình huống trong truyện; một cảnh kịch; một đoạn kí.
- Phân tích một hình ảnh, một khía cạnh nội dung hoặc nghệ thuật của văn bản.
- So sánh, đánh giá hai văn bản cùng đề tài hoặc hai nhân vật.
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ
- Câu mở đoạn (1–2 câu): tên, thể loại văn bản + vấn đề cần phân tích.
- Thân đoạn (6–8 câu): hai, ba ý; mỗi ý gồm nhận định → dẫn chứng → phân tích tín hiệu nghệ thuật → ý nghĩa.
- Câu kết đoạn (1–2 câu): đánh giá nghệ thuật, khái quát giá trị.
Viết bài văn khoảng 600 chữ
Dàn ý khung
- Mở bài (khoảng 60–80 chữ): giới thiệu văn bản (thể loại, đề tài) và nêu vấn đề nghị luận.
- Thân bài (khoảng 450 chữ):
- Khái quát: nhan đề, mạch nội dung, cảm hứng chủ đạo (2–3 câu).
- Luận điểm về nội dung: phân tích theo khổ, đoạn hoặc theo khía cạnh; ý nào cũng có dẫn chứng.
- Luận điểm về nghệ thuật: thể loại, hình ảnh, biện pháp tu từ, ngôn ngữ, giọng điệu, điểm nhìn… (có thể lồng vào từng ý nội dung).
- Đánh giá: giá trị, ý nghĩa của văn bản; nét riêng so với những văn bản cùng đề tài.
- Kết bài (khoảng 60 chữ): khẳng định giá trị, nêu tác động đến bản thân.
Cách mở bài, kết bài
- Mở bài trực tiếp: Bài thơ lục bát “Chị quét đường” khắc họa hình ảnh người lao công lặng lẽ giữa phố đêm, qua đó gửi gắm lời nhắc về lòng biết ơn với những điều tử tế không tên.
- Mở bài gián tiếp: Mỗi sớm, ta bước trên những con phố sạch tinh mà hiếm khi tự hỏi ai đã làm cho chúng sạch. Bài thơ lục bát “Chị quét đường” đã trả lời câu hỏi ấy bằng hình ảnh một người lao công lặng lẽ, và bằng một câu hỏi khiến người đọc phải tự nhìn lại mình.
- Kết bài: Khép lại bài thơ, hình ảnh “áo cam một đốm lửa hồng” vẫn sáng trong tâm trí người đọc. Đó là ánh sáng của những con người bình dị, và cũng là lời nhắc ta sống chậm lại để biết ơn.
Cách đưa dẫn chứng
- Dẫn trực tiếp: trích nguyên văn trong ngoặc kép, đúng từng chữ; thơ chỉ trích một, hai dòng hoặc một cụm từ, các dòng cách nhau bằng dấu “/”.
- Dẫn gián tiếp: tóm lược chi tiết bằng lời của mình (thường dùng với truyện, kịch).
- Công thức D – P – Đ: Dẫn (trích) → Phân tích (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp, nhịp điệu) → Đánh giá (ý nghĩa, cảm xúc, gắn với vấn đề).
Đoạn văn mẫu: Chị quét đường
Đoạn văn mẫu (217 chữ)
Bài thơ lục bát Chị quét đường khắc họa một hình tượng bình dị mà cao đẹp: người lao công lặng lẽ làm sạch phố phường khi mọi người còn say ngủ. Ngay hai dòng đầu, phép tương phản giữa “Phố còn say giấc mơ màng” và “Chị đưa chổi quét lá vàng ven sông” đã làm nổi bật sự tảo tần của chị. Câu thơ “Gió mùa buốt ngón tay không” gợi cái lạnh thấm vào đôi tay trần, cho thấy nỗi vất vả âm thầm. Nhưng nhà thơ không để chị chìm trong màu xám lạnh: hình ảnh so sánh “Áo cam một đốm lửa hồng giữa sương” biến chiếc áo đồng phục thành một nguồn sáng nhỏ bé mà ấm áp, kiên cường. Sang khổ hai, giọng thơ chuyển sang suy ngẫm. Người qua đường “Ngỡ như phố tự biết thương lấy mình” – câu thơ nhẹ nhàng mà xót xa về sự vô tâm trước những đóng góp không tên. Câu hỏi tu từ khép bài như một lời tự vấn, đánh thức lòng biết ơn. Với thể lục bát mềm mại, ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, bài thơ vừa ngợi ca người lao động thầm lặng, vừa nhắc ta biết nhìn thấy những bàn tay đang làm đẹp cuộc sống.
Vì sao đoạn văn đạt điểm cao?
- Câu mở đoạn nêu ngay vấn đề (hình tượng người chị) và nhận định chung (“bình dị mà cao đẹp”).
- Ba ý triển khai theo mạch bài thơ: sự tảo tần, vất vả → vẻ đẹp ấm áp → lời nhắc về lòng biết ơn; ý nào cũng có dẫn chứng chính xác.
- Mỗi dẫn chứng đi kèm tín hiệu nghệ thuật (tương phản, so sánh, câu hỏi tu từ) và ý nghĩa.
- Câu kết đánh giá nghệ thuật (thể lục bát, ngôn ngữ, hình ảnh) và khái quát giá trị; toàn đoạn 217 chữ, không xuống dòng.
Luyện tự chấm: ba đề, bài mẫu ba mức
Cách dùng: đọc đề, tự viết trong đúng thời gian thi, chấm bài của mình theo barem, rồi mới mở dàn ý và đọc ba bài mẫu. Các bài mẫu do ToanKhonTech tự viết; bài mức khá và trung bình cố ý mắc những lỗi học sinh hay gặp (kể cả một chỗ trích sai, có chỉ rõ trong nhận xét) để em đối chiếu. Điểm ghi kèm là điểm tham khảo theo barem ở đầu bài.
Ngữ liệu: bài ca dao ở Đề 1 và bài thơ của Tú Xương ở Đề 3 là tác phẩm thuộc phạm vi công cộng; đoạn văn xuôi ở Đề 2 là đoạn trích tự biên soạn. Đề thi tốt nghiệp từ năm 2025 dùng ngữ liệu ngoài sách giáo khoa, nên Đề 3 với một bài thơ quen thuộc chỉ để rèn kĩ năng phân tích theo ý kiến; khi ôn, em cần luyện thêm với những văn bản lạ.
Đề 1 (đoạn văn): Bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa”
Xem lời giải
Phân tích đề: đối tượng là cả bài ca dao; bài ngắn nên phải phân tích kĩ từng tín hiệu, không được kể lại. Không thêm thông tin ngoài văn bản (hoàn cảnh ra đời, “địa chủ bóc lột”…).
Dàn ý gợi ý: như bảng ở Bước 2 của quy trình – (1) nỗi vất vả: thời điểm “ban trưa”, so sánh và từ láy “thánh thót như mưa”; (2) lời nhắn “Ai ơi” hướng tới mọi người; (3) phép đối “một hạt – muôn phần”, “dẻo thơm – đắng cay”: giá trị của hạt cơm; (4) đánh giá: lục bát, ngôn ngữ mộc mạc, bài học biết ơn.
Mức tốt · 2,0/2,0 điểm · 228 chữ
Chỉ với bốn dòng lục bát, bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa” vừa khắc họa nỗi vất vả của người nông dân, vừa gửi lời nhắc về lòng biết ơn đối với hạt gạo. Hai dòng đầu đặt người cày vào thời điểm khắc nghiệt nhất trong ngày: “buổi ban trưa”, khi nắng đổ thẳng xuống ruộng. Phép so sánh “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” có phần phóng đại nhưng rất thật: từ láy “thánh thót” gợi những giọt mồ hôi nối nhau rơi xuống, nặng hạt như mưa trên chính thửa ruộng đang cày. Đến hai dòng sau, lời ca chuyển từ tả sang nhắn nhủ. Tiếng gọi “Ai ơi” không chỉ đích danh ai, nên lời nhắn hướng tới tất cả những người đang “bưng bát cơm đầy”. Dòng kết là một phép đối giàu sức nặng: “Dẻo thơm một hạt” đặt cạnh “đắng cay muôn phần”, “một” đối với “muôn”, vị ngon của người ăn đối với nỗi cực của người làm. Nhờ phép đối ấy, bát cơm bình thường bỗng chứa cả một mùa nắng mưa. Với ngôn ngữ mộc mạc, nhịp lục bát êm ái và hình ảnh gần gũi, bài ca dao để lại một bài học không bao giờ cũ: biết quý từng hạt cơm là biết trân trọng công sức của người lao động.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Câu mở đoạn nêu đủ hai lớp nội dung của bài |
| Nội dung | 0,5/0,5 | Hai ý (vất vả – lời nhắn biết ơn), dẫn chứng chính xác |
| Nghệ thuật | 0,25/0,25 | Phân tích so sánh, từ láy, lời gọi “Ai ơi”, phép đối, mỗi tín hiệu đều có tác dụng |
| Đánh giá | 0,25/0,25 | Câu kết khái quát nghệ thuật và giá trị |
| Kĩ năng | 0,5/0,5 | Mỗi ý đi đủ dẫn – phân tích – đánh giá; câu “bát cơm bình thường bỗng chứa cả một mùa nắng mưa” là phát hiện riêng |
| Hình thức | 0,25/0,25 | Một đoạn, dung lượng phù hợp |
Mức khá · 1,5/2,0 điểm · 179 chữ
Bài ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa” nói về sự vất vả của người nông dân và nhắc nhở chúng ta phải biết quý trọng hạt gạo. Ở hai câu đầu, tác giả dân gian miêu tả cảnh người nông dân cày ruộng vào buổi trưa. Buổi trưa là lúc trời nắng nhất nhưng họ vẫn phải làm việc ngoài đồng. Mồ hôi của họ rơi xuống “thánh thót như mưa”, cho thấy công việc rất nặng nhọc. Ở đây tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp so sánh. Ở hai câu sau, bài ca dao là lời nhắn nhủ với mọi người. Khi bưng bát cơm đầy, chúng ta phải nhớ rằng mỗi hạt cơm dẻo thơm đều chứa đựng biết bao nỗi đắng cay của người làm ra nó. Vì vậy, chúng ta phải biết trân trọng và không được lãng phí thức ăn. Bài ca dao sử dụng thể thơ lục bát, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu. Qua đó, em càng thêm yêu quý và biết ơn những người nông dân.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Nêu đúng hai lớp nội dung |
| Nội dung | 0,5/0,5 | Đủ hai ý, hiểu đúng bài ca dao |
| Nghệ thuật | 0/0,25 | Chỉ gọi tên “biện pháp so sánh” trong một câu tách rời, tác dụng dừng ở ý chung “công việc rất nặng nhọc” (chưa nói so sánh mồ hôi với mưa gợi điều gì); bỏ qua phép đối “một hạt – muôn phần”, tín hiệu đắt nhất của bài |
| Đánh giá | 0,25/0,25 | Có câu đánh giá thể thơ, ngôn ngữ (còn chung) |
| Kĩ năng | 0,25/0,5 | Nhiều câu diễn xuôi (“Buổi trưa là lúc trời nắng nhất…”); lặp “Ở hai câu…”, “tác giả dân gian” |
| Hình thức | 0,25/0,25 | Một đoạn, dung lượng phù hợp |
Sửa thế nào để lên mức tốt: thay câu “Ở đây tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp so sánh” bằng một câu nêu tác dụng (“so sánh mồ hôi với mưa phóng đại nỗi nhọc nhằn…”); thêm một câu phân tích phép đối ở dòng cuối.
Mức trung bình · 0,75/2,0 điểm · 163 chữ
Bài ca dao trên là một bài ca dao rất hay nói về người nông dân. Câu thơ thứ nhất cho biết người nông dân đang cày ruộng vào buổi trưa. Câu thơ thứ hai cho biết mồ hôi của họ rơi xuống như mưa, tác giả đã sử dụng biện pháp ẩn dụ để nói lên sự vất vả. Bài ca dao được sáng tác vào thời phong kiến, khi người nông dân bị địa chủ bóc lột nặng nề nên rất khổ cực. Câu thơ thứ ba và thứ tư khuyên chúng ta khi ăn cơm phải nhớ đến người nông dân. Một hạt cơm thì dẻo thơm nhưng người làm ra nó phải chịu nhiều đắng cay. Bài ca dao giúp em hiểu được nỗi vất vả của người nông dân ngày xưa. Em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này góp phần giúp đỡ những người nông dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0/0,25 | Có nêu đối tượng nhưng câu mở đoạn chung chung (“một bài ca dao rất hay nói về người nông dân”), không nêu được nội dung bài ca dao |
| Nội dung | 0,25/0,5 | Diễn xuôi từng câu (“Câu thơ thứ nhất cho biết…”), chưa phân tích |
| Nghệ thuật | 0/0,25 | Gọi sai biện pháp: “như mưa” là so sánh (có từ “như”), không phải ẩn dụ |
| Đánh giá | 0,25/0,25 | Có câu đánh giá ý nghĩa, dù sơ sài |
| Kĩ năng | 0/0,5 | Bịa thông tin ngoài văn bản (“sáng tác vào thời phong kiến, địa chủ bóc lột”); câu cuối lạc sang bài học cá nhân |
| Hình thức | 0,25/0,25 | Một đoạn, dung lượng chấp nhận được |
Sửa thế nào để lên mức khá: viết lại câu mở đoạn cho nêu đủ hai lớp nội dung (nỗi vất vả – lời nhắc biết ơn); bỏ câu về hoàn cảnh sáng tác; viết lại các câu diễn xuôi thành phân tích (“buổi ban trưa” là lúc nắng gắt nhất…); sửa “ẩn dụ” thành “so sánh” và nêu tác dụng.
Đề 2 (đoạn văn): Chi tiết chiếc đồng hồ chạy nhanh
Xem lời giải
Phân tích đề: đối tượng là một chi tiết, không phải nhân vật người mẹ hay cả đoạn trích. Mọi ý phải gắn với chiếc đồng hồ hoặc hành động liên quan đến nó.
Dàn ý gợi ý
- Mở đoạn: chiếc đồng hồ là đồ vật quen thuộc nhưng kết tinh tình thương lặng lẽ của mẹ.
- Thời thơ ấu: “mẹo” giúp con kịp giờ; lời mẹ “Mười phút ấy là của con… để mà đi chậm” – mẹ muốn con thong thả.
- Khi con đi xa: mẹ dọn mâm sớm mười phút “phòng khi nó về bất chợt” – thời gian dành cho con thành thời gian chờ con.
- Hành động của người con: “Tay chạm vào mặt kính rồi lại thôi” – sự thấu hiểu, trưởng thành.
- Câu kết: “Nó đo một nỗi chờ” – chi tiết thành biểu tượng.
- Đánh giá: ngôi kể thứ nhất hồi tưởng, chi tiết lặp lại xuyên suốt, kết hàm súc; tình mẫu tử nằm trong điều nhỏ bé.
Mức tốt · 2,0/2,0 điểm · 233 chữ
Trong đoạn trích “Chiếc đồng hồ chạy nhanh mười phút”, chiếc đồng hồ treo tường không chỉ là một đồ vật quen thuộc mà còn là nơi kết tinh tình thương lặng lẽ của người mẹ. Ban đầu, mười phút chạy nhanh là “mẹo” để đứa con học lớp Một sáng nào cũng kịp giờ. Nhưng lời giải thích “Mười phút ấy là của con đấy. Dư ra thì để mà đi chậm” cho thấy mẹ không chỉ muốn con đúng giờ, mà còn muốn con được thong thả giữa nhịp sống vội vã. Khi con đi xa, chiếc đồng hồ đổi nghĩa: mẹ dọn mâm sớm mười phút “phòng khi nó về bất chợt”, nên khoảng thời gian từng giúp con kịp đến trường giờ thành khoảng thời gian mẹ đợi con về. Hành động “Tay chạm vào mặt kính rồi lại thôi” đánh dấu sự trưởng thành của người con: chỉnh lại kim là xóa đi một thói quen yêu thương, nên người con để nguyên. Câu văn ngắn khép lại đoạn trích, “Nó đo một nỗi chờ”, đã nâng chi tiết đời thường thành biểu tượng. Bằng ngôi kể thứ nhất giàu hồi tưởng, chi tiết được lặp lại xuyên suốt và lối kết hàm súc, đoạn trích cho thấy tình mẫu tử không cần lời lớn lao; nó nằm trong những điều nhỏ bé mà ta tưởng là lỗi.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Nêu đúng chi tiết và nhận định chung |
| Nội dung | 0,5/0,5 | Ba chặng nghĩa của chi tiết (mẹo – nỗi chờ – sự thấu hiểu), trích chính xác |
| Nghệ thuật | 0,25/0,25 | Chỉ ra sự lặp lại của chi tiết, câu kết ngắn, ngôi kể thứ nhất và tác dụng |
| Đánh giá | 0,25/0,25 | Khái quát giá trị: tình mẫu tử trong điều nhỏ bé |
| Kĩ năng | 0,5/0,5 | Bám chặt chi tiết, không lan sang phân tích nhân vật; ý “những điều nhỏ bé mà ta tưởng là lỗi” là phát hiện riêng |
| Hình thức | 0,25/0,25 | Một đoạn, dung lượng phù hợp |
Mức khá · 1,5/2,0 điểm · 179 chữ
Chi tiết chiếc đồng hồ chạy nhanh mười phút là một chi tiết đặc sắc trong đoạn trích. Khi nhân vật “tôi” còn nhỏ, mẹ đã vặn đồng hồ nhanh lên mười phút để sáng nào con cũng đến lớp đúng giờ. Điều đó cho thấy mẹ rất quan tâm đến việc học của con. Khi lớn lên, “tôi” phát hiện ra và cười mẹ, nhưng mẹ nói mười phút ấy là của con để đi chậm. Điều đó cho thấy mẹ rất thương con. Khi “tôi” lên thành phố học đại học, chiếc đồng hồ vẫn nhanh mười phút và mẹ vẫn dọn mâm cơm sớm để chờ con về. Điều đó cho thấy mẹ rất nhớ con. Cuối đoạn trích, “tôi” đã hiểu rằng chiếc đồng hồ không dùng để đo thời gian mà đo nỗi chờ của mẹ. Tác giả đã xây dựng chi tiết rất thành công, ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc. Qua chi tiết chiếc đồng hồ, em cảm nhận được tình yêu thương bao la của người mẹ dành cho con.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Nêu đúng chi tiết |
| Nội dung | 0,5/0,5 | Đủ các chặng nghĩa của chi tiết |
| Nghệ thuật | 0/0,25 | “Xây dựng chi tiết rất thành công” là nhận xét suông; không chỉ ra sự lặp lại, câu kết ngắn, ngôi kể |
| Đánh giá | 0,25/0,25 | Có câu khái quát tình mẹ |
| Kĩ năng | 0,25/0,5 | Lặp ba lần “Điều đó cho thấy…”; dẫn chứng chủ yếu tóm lược, bỏ qua hành động “Tay chạm vào mặt kính rồi lại thôi” |
| Hình thức | 0,25/0,25 | Một đoạn, dung lượng phù hợp |
Sửa thế nào để lên mức tốt: trích nguyên văn lời mẹ và câu kết thay vì tóm lược; thay các câu “Điều đó cho thấy” bằng “gợi”, “hé lộ”, “làm nổi bật”; thêm một câu về hành động của người con và một câu về nghệ thuật.
Mức trung bình · 0,75/2,0 điểm · 156 chữ
Chi tiết chiếc đồng hồ chạy nhanh mười phút cho thấy tình yêu thương của người mẹ dành cho con. Người mẹ trong đoạn trích là một người mẹ rất yêu thương con. Hồi con còn nhỏ, mẹ luôn lo lắng con đi học muộn nên đã chỉnh đồng hồ nhanh hơn. Sáng nào mẹ cũng gọi con dậy đi học. Khi con lên thành phố học đại học, mẹ ở nhà một mình rất buồn, đêm nào cũng khóc vì nhớ con. Mẹ còn dọn cơm sớm để chờ con về. Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất của con người. Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều tác phẩm văn học viết về đề tài này. Người mẹ nào cũng hi sinh cả cuộc đời mình vì con cái. Qua chi tiết chiếc đồng hồ, em thấy mình phải biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ khi còn có thể.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Câu đầu nêu đúng chi tiết |
| Nội dung | 0,25/0,5 | Lạc sang phân tích nhân vật người mẹ và tình mẫu tử nói chung; chỉ nhắc chi tiết ở hai câu |
| Nghệ thuật | 0/0,25 | Không có |
| Đánh giá | 0/0,25 | Câu cuối chuyển sang bài học đạo đức (“phải biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ”), không đánh giá ý nghĩa, nghệ thuật của chi tiết |
| Kĩ năng | 0/0,5 | Bịa chi tiết “đêm nào cũng khóc vì nhớ con” (văn bản không có); “mẹ ở nhà một mình” sai (bố vẫn ở nhà); ba câu bàn chung về tình mẫu tử |
| Hình thức | 0,25/0,25 | Một đoạn, dung lượng chấp nhận được |
Sửa thế nào để lên mức khá: bỏ các câu bàn chung và chi tiết bịa; với mỗi chặng (thơ ấu – khi con đi xa – khi con về), trích một câu văn có chiếc đồng hồ rồi nêu ý nghĩa; thay câu bài học ở cuối bằng một câu đánh giá ý nghĩa của chi tiết.
Đề 3 (bài văn): Bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương
Xem lời giải
Phân tích đề: phân tích, đánh giá cả bài thơ theo hai vế của ý kiến: chân dung bà Tú (luận điểm 1) và chân dung tự họa của ông Tú (luận điểm 2). Bài chỉ phân tích bà Tú là bỏ mất 0,75 điểm.
Dàn ý gợi ý
- Mở bài: giới thiệu Tú Xương, bài thơ (thất ngôn bát cú Đường luật, viết về bà Tú); nêu ý kiến.
- Giải thích ý kiến: chân dung bà Tú – người vợ lam lũ, đảm đang, hi sinh; chân dung tự họa – ông Tú tự nhìn mình: biết ơn, tự giễu, tự trách.
- Luận điểm 1 – bà Tú: “quanh năm”, “mom sông” (thời gian liên tục, chỗ đứng chênh vênh); “nuôi đủ năm con với một chồng” (gánh nặng, sự chu toàn); “lặn lội thân cò” (hình ảnh ca dao, đảo ngữ), đối “khi quãng vắng – buổi đò đông”; thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”, thái độ “âu đành phận”, “dám quản công”.
- Luận điểm 2 – ông Tú: “với một chồng” – tự xếp mình vào hàng được nuôi, cách đếm tự giễu; “hai nợ” – tự nhận là gánh nợ; hai câu kết – chửi thói đời, tự phán xét “hờ hững cũng như không”: nhân cách dám nhận lỗi.
- Đánh giá: Đường luật kết hợp chất liệu dân gian (con cò, thành ngữ, khẩu ngữ); giọng thương mà tự trào; ý kiến xác đáng – thương vợ và tự trách là hai mặt của một tấm lòng; giá trị nhân văn.
- Kết bài: khẳng định giá trị, liên hệ ngắn.
Mức tốt · 4,0/4,0 điểm · 651 chữ
Có những bài thơ viết về người khác mà rốt cuộc lại cho ta thấy rõ nhất chính người viết. Thương vợ của Tú Xương (Trần Tế Xương, 1870–1907) là một bài thơ như thế. Bằng thể thất ngôn bát cú Đường luật, nhà thơ kể về sự tần tảo của bà Tú, nhưng giữa những câu thơ ấy, ông Tú cũng hiện lên rõ nét. Bởi vậy, có ý kiến cho rằng bài thơ là bức chân dung bà Tú, đồng thời là bức chân dung tự họa của ông Tú.
“Chân dung bà Tú” là hình ảnh người vợ lam lũ, đảm đang, giàu đức hi sinh. “Chân dung tự họa” là cách ông Tú tự nhìn lại mình: biết ơn vợ, tự giễu và tự trách. Hai lớp nghĩa ấy không tách rời mà đan vào nhau trong từng câu thơ.
Bà Tú hiện lên trước hết qua công việc mưu sinh. Câu mở đầu “Quanh năm buôn bán ở mom sông” vừa chỉ thời gian liên tục, không ngơi nghỉ, vừa gợi một chỗ đứng chênh vênh: “mom sông” là mỏm đất nhô ra lòng sông, nơi buôn bán bấp bênh. Gánh nặng của bà được đếm cụ thể: “Nuôi đủ năm con với một chồng”; chữ “đủ” cho thấy bà không chỉ nuôi mà còn nuôi chu toàn. Hai câu thực khắc sâu nỗi vất vả. Hình ảnh con cò quen thuộc trong ca dao được đưa vào thơ với phép đảo ngữ “Lặn lội thân cò”, đặt sự lam lũ lên trước con người. “Khi quãng vắng” đối với “buổi đò đông”: lúc một mình nơi heo hút, lúc chen chúc giữa tiếng “eo sèo” kì kèo. Đến hai câu luận, các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” với những con số tăng dần gợi gánh nặng chồng chất, vậy mà bà chỉ lặng lẽ “âu đành phận”, “dám quản công”. Đó là người phụ nữ đảm đang, nhẫn nại, hi sinh không một lời kêu ca.
Đằng sau bà Tú là chân dung ông Tú, được vẽ bằng những nét tự giễu. Trong câu “Nuôi đủ năm con với một chồng”, ông tự đặt mình bên cạnh đàn con, thành một “đứa con” lớn mà vợ phải nuôi; cách đếm hóm hỉnh ấy giấu nỗi hổ thẹn của người đàn ông trong một xã hội coi chồng là trụ cột. Trong “một duyên hai nợ”, ông cũng ngầm nhận mình là cái “nợ” bà phải gánh. Hai câu kết bật lên thành tiếng chửi: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”. Ông chửi thói đời bạc bẽo đã đẩy người phụ nữ vào cảnh nhọc nhằn, rồi quay ngòi bút về phía mình: “Có chồng hờ hững cũng như không”. Lời tự phán xét ấy cho thấy một nhân cách đáng trọng: người chồng không chỉ thương vợ mà còn dám nhận lỗi.
Bài thơ thành công nhờ kết hợp khuôn thơ Đường luật với chất liệu dân gian: hình ảnh con cò, các thành ngữ, lời ăn tiếng nói đời thường khiến tám câu thơ gần gũi mà hàm súc. Giọng thơ vừa xót thương vừa tự trào; tiếng cười tự giễu không làm nhẹ đi mà càng làm đậm nỗi đau. Vì thế, ý kiến trên là xác đáng: thương vợ và tự trách là hai mặt của cùng một tấm lòng. Chính lớp nghĩa thứ hai làm bài thơ vượt khỏi một lời khen tặng, trở thành tiếng nói nhân văn về người phụ nữ.
Hơn một thế kỉ đã qua, bà Tú vẫn “lặn lội” trong tám câu thơ, còn ông Tú vẫn cúi đầu nhận phần lỗi của mình. Đọc Thương vợ, ta hiểu rằng yêu thương thật sự bắt đầu từ việc nhìn thấy sự hi sinh của người bên cạnh, và đủ dũng cảm để nhìn thấy cả thiếu sót của chính mình.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Mở bài nêu tác giả, thể thơ, vấn đề và ý kiến |
| Giới thiệu, giải thích ý kiến | 0,25/0,25 | Giải thích rõ hai vế, chỉ ra chúng đan vào nhau |
| Luận điểm 1: bà Tú | 0,75/0,75 | Đi qua đề – thực – luận, mỗi ý có trích dẫn và tín hiệu (“mom sông”, chữ “đủ”, đảo ngữ, phép đối, thành ngữ) |
| Luận điểm 2: ông Tú | 0,75/0,75 | Phát hiện cách đếm “với một chồng”, chữ “nợ”, lời tự phán xét ở câu kết |
| Đánh giá nghệ thuật | 0,25/0,25 | Đường luật kết hợp chất liệu dân gian, giọng thương mà tự trào |
| Đánh giá ý kiến, giá trị | 0,25/0,25 | Khẳng định ý kiến xác đáng và nêu giá trị nhân văn |
| Kĩ năng | 0,75/0,75 | Hai luận điểm bám hai vế của ý kiến, câu chuyển đoạn “Đằng sau bà Tú là…”; trích dẫn chính xác |
| Hình thức | 0,75/0,75 | Bố cục đủ, dung lượng phù hợp, không lỗi; mở bài và kết bài có hình ảnh riêng |
Mức khá · 2,75/4,0 điểm · 554 chữ
Tú Xương là nhà thơ trào phúng nổi tiếng của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Bài thơ Thương vợ là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông, viết về bà Tú, người vợ tảo tần, giàu đức hi sinh. Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, thể hiện tình cảm yêu thương, quý trọng của nhà thơ dành cho người vợ của mình.
Hai câu đề giới thiệu hoàn cảnh và công việc của bà Tú: “Quanh năm buôn bán ở mom sông, / Nuôi đủ năm con với một chồng.” Cụm từ “quanh năm” cho thấy bà Tú phải làm việc liên tục, hết ngày này qua ngày khác, không có lúc nào được nghỉ ngơi. “Mom sông” là phần đất nhô ra phía lòng sông, gợi nơi buôn bán chênh vênh, không ổn định. Bà phải nuôi cả gia đình gồm năm người con và một người chồng. Chữ “đủ” cho thấy bà nuôi chồng con đầy đủ, không để ai phải thiếu thốn. Qua đó, ta thấy bà Tú là người phụ nữ đảm đang, một mình gánh vác cả gia đình.
Hai câu thực tiếp tục làm rõ sự vất vả của bà Tú: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng, / Eo sèo mặt nước buổi đò đông.” Tác giả đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú. Từ láy “lặn lội” gợi sự vất vả, cực nhọc. Phép đối giữa “khi quãng vắng” và “buổi đò đông” cho thấy dù ở nơi vắng vẻ hay đông đúc, bà Tú đều phải chịu nhiều gian nan, vất vả. Ở nơi vắng thì cô đơn, nguy hiểm; ở nơi đông thì phải chen chúc, cãi cọ.
Hai câu luận nói về đức tính của bà Tú: “Một duyên hai nợ, âu đành phận, / Năm nắng mười mưa dám quản công.” Tác giả sử dụng thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” để nói về sự vất vả của bà. Tuy vậy, bà không hề than vãn mà chấp nhận số phận, cam chịu vì chồng con. Cụm từ “dám quản công” cho thấy bà không quản ngại khó khăn, vất vả để lo cho gia đình. Đây là vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh.
Hai câu kết là lời của ông Tú: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc: / Có chồng hờ hững cũng như không!” Ông Tú chửi thói đời đã khiến bà Tú phải khổ. Ông tự nhận mình là người chồng hờ hững, không giúp được gì cho vợ. Qua đó, ta thấy ông Tú là người rất thương vợ.
Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, sử dụng nhiều thành ngữ, hình ảnh dân gian, ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc, giọng thơ vừa thương cảm vừa hóm hỉnh.
Tóm lại, bài thơ Thương vợ đã khắc họa thành công hình ảnh bà Tú tần tảo, giàu đức hi sinh và thể hiện tình yêu thương, sự trân trọng của ông Tú dành cho vợ. Bài thơ có giá trị nhân văn sâu sắc và để lại cho em nhiều cảm xúc.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Mở bài giới thiệu đúng tác giả, bài thơ, đối tượng |
| Giới thiệu, giải thích ý kiến | 0/0,25 | Không nhắc tới ý kiến của đề, không giải thích “chân dung tự họa” |
| Luận điểm 1: bà Tú | 0,75/0,75 | Đủ ý, trích chính xác, có phân tích tín hiệu (“mom sông”, phép đối, thành ngữ) |
| Luận điểm 2: ông Tú | 0,25/0,75 | Chỉ một đoạn ngắn ở hai câu kết; bỏ qua cách đếm “với một chồng” và chữ “nợ” |
| Đánh giá nghệ thuật | 0,25/0,25 | Có nêu thể thơ, chất liệu dân gian, giọng thơ |
| Đánh giá ý kiến, giá trị | 0,25/0,25 | Có câu khái quát giá trị nhân văn nên đạt. Chưa đánh giá ý kiến, nhưng lỗi này đã bị trừ ở dòng giải thích ý kiến và kĩ năng. Vế “để lại cho em nhiều cảm xúc” là cảm xúc chung, không được tính |
| Kĩ năng | 0,5/0,75 | Trích dẫn chính xác (0,25); phân tích theo thứ tự đề – thực – luận – kết chứ chưa tổ chức theo hai vế của ý kiến (0,25) |
| Hình thức | 0,5/0,75 | Bố cục, chính tả đạt; diễn đạt quen thuộc, chưa có phát hiện riêng |
Sửa thế nào để lên mức tốt: thêm một đoạn giải thích ý kiến sau mở bài; gom phần ông Tú thành một luận điểm riêng, phân tích “với một chồng”, “hai nợ” và lời tự phán xét; ở kết bài nói rõ vì sao ý kiến xác đáng.
Mức trung bình · 2,0/4,0 điểm · 442 chữ
Trần Tế Xương là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông có rất nhiều bài thơ hay, trong đó có bài Thương vợ. Bài thơ viết về bà Tú, vợ của ông. Tú Xương viết bài thơ này khi bà Tú đã qua đời để bày tỏ nỗi nhớ thương vợ.
Câu thơ thứ nhất “Quanh năm buôn bán ở mom sông” cho biết bà Tú làm nghề buôn bán ở mom sông quanh năm. Câu thơ thứ hai “Nuôi đủ năm con với một chồng” cho biết bà phải nuôi năm người con và một người chồng. Như vậy, một mình bà Tú phải nuôi tới sáu miệng ăn, rất vất vả.
Câu thơ thứ ba “Lặn lội thân cò nơi quãng vắng” nói bà Tú giống như con cò lặn lội kiếm ăn. Câu thơ thứ tư “Eo sèo mặt nước buổi đò đông” nói bà Tú phải chen chúc với nhiều người trên sông. Hai câu thơ này sử dụng biện pháp ẩn dụ và đối, làm cho câu thơ hay hơn, sinh động hơn.
Câu thơ thứ năm và thứ sáu nói bà Tú chấp nhận số phận của mình, dù vất vả nhưng không bao giờ kêu ca. “Một duyên hai nợ” nghĩa là bà Tú có một phần duyên nhưng có tới hai phần nợ. “Năm nắng mười mưa” nghĩa là bà phải làm việc vất vả dưới trời nắng, trời mưa. Bà là người phụ nữ rất tốt, rất đáng thương. Người phụ nữ Việt Nam xưa nay luôn chịu nhiều thiệt thòi, vất vả nhưng vẫn luôn hi sinh vì gia đình. Hình ảnh bà Tú làm em nhớ đến mẹ em, ngày nào cũng dậy sớm đi chợ, nấu cơm cho cả nhà rồi mới đi làm.
Câu thơ thứ bảy và thứ tám là lời ông Tú trách bản thân mình là người chồng không giúp được gì cho vợ. Ông còn chửi thói đời ăn ở bạc bẽo.
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, có nhiều từ ngữ dân gian dễ hiểu. Bài thơ cho em thấy được sự vất vả của bà Tú và tình cảm của ông Tú dành cho vợ.
Qua bài thơ, em càng thêm yêu quý, kính trọng những người phụ nữ Việt Nam. Em sẽ cố gắng học tập thật tốt, giúp đỡ mẹ những việc nhà để mẹ đỡ vất vả hơn. Bài thơ Thương vợ là một bài thơ rất hay, rất ý nghĩa mà em sẽ nhớ mãi. Hình ảnh bà Tú tần tảo sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc qua bao thế hệ.
| Tiêu chí | Điểm | Nhận xét |
|---|---|---|
| Xác định vấn đề | 0,25/0,25 | Nêu được bài thơ và đối tượng bà Tú |
| Giới thiệu, giải thích ý kiến | 0/0,25 | Không nhắc tới ý kiến; bịa hoàn cảnh sáng tác (“khi bà Tú đã qua đời”) – chính bài thơ cho thấy bà đang buôn bán, đang nuôi chồng con |
| Luận điểm 1: bà Tú | 0,5/0,75 | Đủ ý nhưng diễn xuôi từng câu (“Câu thơ thứ nhất cho biết…”) |
| Luận điểm 2: ông Tú | 0,25/0,75 | Chỉ hai câu, kể lại ý của hai câu kết |
| Đánh giá nghệ thuật | 0/0,25 | Gọi tên ẩn dụ, đối nhưng tác dụng chung chung “hay hơn, sinh động hơn” |
| Đánh giá ý kiến, giá trị | 0,25/0,25 | Có câu đánh giá giá trị, dù sơ lược (“cho em thấy được sự vất vả của bà Tú và tình cảm của ông Tú”). Bỏ qua ý kiến đã bị trừ ở dòng giải thích ý kiến; câu “rất hay, rất ý nghĩa” không được tính |
| Kĩ năng | 0,25/0,75 | Trích sai: “nơi quãng vắng” (đúng là “khi quãng vắng”) nên mất điểm trích dẫn; phân tích theo thứ tự câu; liên hệ mẹ em làm lạc mạch |
| Hình thức | 0,5/0,75 | Bố cục, chính tả đạt; câu sáo “rất hay, rất ý nghĩa” |
Sửa thế nào để lên mức khá: bỏ thông tin bịa; đối chiếu lại từng chữ khi trích; thay “Câu thơ thứ nhất cho biết…” bằng câu phân tích từ ngữ, hình ảnh; dành một đoạn cho ông Tú.
Lỗi mất điểm
Lạc đề
| Đề yêu cầu | Bài lạc sang | Cách giữ trọng tâm |
|---|---|---|
| Phân tích chi tiết chiếc đồng hồ | Phân tích nhân vật người mẹ, bàn về tình mẫu tử nói chung | Câu nào cũng gắn với chiếc đồng hồ hoặc hành động liên quan |
| Phân tích bài ca dao | Kể khổ người nông dân thời phong kiến (ngoài văn bản) | Chỉ dựa vào câu chữ của bài |
| Làm sáng tỏ ý kiến “chân dung tự họa” | Chỉ phân tích bà Tú | Lập dàn ý theo hai vế của ý kiến |
| Phân tích một khổ thơ | Phân tích cả bài | Các khổ khác chỉ nhắc một câu để nối mạch |
Thiếu dẫn chứng, dẫn chứng sai
| Biểu hiện | Vì sao mất điểm | Cách sửa |
|---|---|---|
| “Tác giả xây dựng chi tiết rất thành công.” | Nhận xét không có câu chữ làm căn cứ | Trích câu văn rồi chỉ ra tín hiệu |
| Trích “nơi quãng vắng” thay cho “khi quãng vắng” | Sai văn bản, mất điểm trích dẫn | Đối chiếu từng chữ với đề trước khi nộp |
| Chép nguyên cả khổ thơ | “Lấp chỗ”, không phân tích | Chỉ trích cụm từ cần phân tích |
| Thêm năm sáng tác, hoàn cảnh không có trong đề | Thông tin bịa, trừ điểm kĩ năng | Chỉ nói điều em chắc chắn hoặc điều văn bản cho biết |
Diễn đạt
| Câu mắc lỗi | Lỗi | Sửa lại |
|---|---|---|
| Câu thơ thứ nhất cho biết bà Tú buôn bán ở mom sông. | Diễn xuôi | “Mom sông” gợi chỗ đứng chênh vênh, cho thấy nỗi bấp bênh của nghề buôn bán nhỏ. |
| Biện pháp so sánh làm câu thơ hay hơn, sinh động hơn. | Tác dụng chung chung | So sánh mồ hôi “như mưa” phóng đại nỗi nhọc nhằn, cho thấy cái giá của hạt gạo. |
| Điều đó cho thấy mẹ thương con. Điều đó cho thấy mẹ nhớ con. | Lặp một kiểu câu | Đổi động từ: “gợi”, “hé lộ”, “khắc họa”, “làm nổi bật”. |
| Qua bài thơ cho thấy tấm lòng của ông Tú. | Thiếu chủ ngữ | Bài thơ cho thấy tấm lòng của ông Tú. |
Mẹo làm bài
Tự kiểm tra nhanh
- Đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ được chấm theo những nhóm tiêu chí nào?
Xem đáp án
Nội dung kiến thức 1,25 điểm (xác định vấn đề 0,25; triển khai 1,0), kĩ năng phân tích, lập luận 0,5 điểm, hình thức và ngôn ngữ 0,25 điểm.
- Công thức D – P – Đ khi đưa dẫn chứng là gì?
Xem đáp án
Dẫn (trích chính xác) → Phân tích (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật) → Đánh giá (ý nghĩa, gắn với vấn đề nghị luận).
- Với đề “Phân tích khổ thơ thứ hai của bài Chị quét đường”, em sẽ triển khai những ý nào?
Xem đáp án
Sự vô tâm của người qua đường (“Ngỡ như phố tự biết thương lấy mình”); câu hỏi tu từ ở hai dòng cuối như lời tự vấn, thức tỉnh lòng biết ơn; hình ảnh “cúi gom bụi phố lặng thinh” gợi sự hi sinh thầm lặng; đánh giá giọng thơ chuyển từ tả sang suy ngẫm.
- Khi so sánh hai văn bản, vì sao không nên phân tích riêng từng bài rồi mới so sánh ở cuối?
Xem đáp án
Vì bài viết dễ thành hai bài phân tích rời nhau, phần so sánh mỏng; đặt hai văn bản trong cùng một tiêu chí (đề tài, hình ảnh, nghệ thuật) giúp sự giống, khác hiện rõ và lập luận chặt hơn.
- Bài mẫu mức khá ở Đề 3 phân tích đúng và trích chính xác, vì sao vẫn chỉ được 2,75 điểm?
Xem đáp án
Bài không giải thích và không bám ý kiến của đề: phần “chân dung tự họa” của ông Tú chỉ có một đoạn ngắn, bỏ qua cách đếm “với một chồng” và chữ “nợ”, nên mất điểm giải thích ý kiến, mất phần lớn luận điểm thứ hai và một phần điểm kĩ năng tổ chức luận điểm.
Làm 10 câu luyện tập về viết nghị luận văn học và xem lời giải ngay sau mỗi câu.